Mạn đàm cùng TS Trần Nhơn

Nguyễn Ngọc – Mạn đàm với Tiến Sĩ Trần Nhơn (phần I)

Nguyễn Ngọc

Thưa ông, sau khi đã đọc xong toàn bộ luận văn của ông qua bốn bài viết với năm phần, tôi mạo muội có đôi lời với ông căn cứ theo khung dàn bài mà ông đưa ra.

Thưa thật với ông, thời tôi nghiên cứu (chắc là sau ông khá xa) cũng là thời mà khoa học kỹ thuật còn rất kém đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam bị cô lập, nghèo khó và cấm vận cách đây hơn 30 năm, nên tôi chỉ xin phép dùng hình thức “mạn đàm” để thưa với ông câu chuyện về Triết học Marx, bởi lẽ không còn tài liệu lưu trữ để xác tín. Hình thức “mạn đàm” chủ yếu bằng trí nhớ và tri thức tích lũy về một vấn đề nào đó và danh dự cá nhân để nói lên quan điểm riêng.

Trước tiên, theo lời dẫn của ông Vũ Duy Phú (biên tập cho luận văn của ông), thì bài luận này đã được gởi cho Ban chấp hành TƯ ĐCSVN vào ngày 22-3-2009 nhân sắp đại hội XI, ba tháng sau, ông lại có “Tâm Ngôn” gửi đảng, có lẽ khoảng tháng 6/2009 ? Nếu điều này là không lầm lẫn thì bài luận của ông đã có phản hồi từ nơi được gởi đi chưa, thưa ông? nếu có thì tôi xin phép được xem để khi phản biện với ông đảm bảo những phân tích, dẫn chứng xác thực hơn. Tuy nhiên, tôi tạm coi bài luận của ông chưa có phản hồi từ phía ban chấp hành TƯĐCSVN cho đến hiện nay (tháng 5/2010 -đã gần một năm).

Thứ hai, tại phần 1.1, ông nói qua khái quát học thuyết Marx có bốn phần chính a,b,c,d là lầm lẫn và cách phân chia của ông không phải là cách mà các sách vở chính thống của Nhà nước Cộng sản giảng dạy. Thưa ông, học thuyết Marx – Lénine có ba bộ phận chính sau đây :

– Triết học gồm: Triết học duy vật biện chứng và Triết học duy vật lịch sử
– Kinh tế – chính trị học gồm : Kinh tế chính trị học phần chủ nghĩa tư bản và Kinh tế chinh trị học phần chủ nghĩa xã hội
– Chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Đó là những giáo trình chính thống của Nhà nước được giảng dạy đại trà, đầy đủ cho tất cả các trường Đại học trên toàn quốc (đặc biệt đối với các trường khối kinh tế, sinh viên thời trước 1990 phải học với thời lượng gấp ba lần so với sinh viên các khối trường khoa học kỹ thuật dù cùng vào một khóa). Vì sao tôi đề cập trước 1990, vì hầu như tất cả các vị trong Bộ Chính Trị hiện nay đều được học về học thuyết Marx theo kiểu cũ trước cả thập niên 90, mà theo tôi biết họ học tập về Marx vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước. Phần cương lĩnh năm 1991 do ông Nguyễn Phú Trọng chủ biên soạn thảo cũng đã nêu rõ cái cách dò dẫm theo Chủ nghĩa Marx. Không riêng ông Trọng, 15 người đang ở trong bộ chính trị hiện nay có đủ thời gian để nghiên cứu sâu sát và thấu hiểu Marx hay chưa cũng là điều cần phải xem lại.

Thưa ông,

Theo ông: “Học thuyết Mác có những bộ phận chính sau đây: a) Triết học, b) Chính trị, kinh tế, xã hội học, c) Giai cấp và giai cấp đấu tranh, d) Chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp (Chủ nghĩa Cộng sản) v.v…”

Theo tôi ngay từ đầu ông đã phân chia chưa đúng những gì thuộc học thuyết Marx.

Phần a, ông đã dẫn chưa đủ hai phần triết học của Marx. Đây chính là hai phần cơ bản làm nên học thuyết Marx và cũng là hai phần mâu thuẫn nhau đến độ tôi cho rằng phần duy vật lịch sử đã bị bóp méo và được ấn vào tay Marx, mà không phải do Marx tự viết ra (tôi sẽ phân tích sau về mâu thuẫn giữa hai phần duy vật biện chứng và duy vật lịch sử).

Trong phần duy vật biện chứng, tôi xin điểm qua 3 quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù để tiện dẫn giải và phản biện, phân tích tại sao duy vật lịch sử mâu thuẫn rất nhiều với duy vật biện chứng mà Marx không lẽ có thể tự mình mâu thuẫn với mình như thế:

* Ba quy luật:

– Quy Luật 1: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
– Quy Luật 2: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất (mà người ta hay gọi tắt là quy luật lượng đổi chất đổi)
– Quy luật 3: Quy luật phủ định của phủ định

* Sáu cặp phạm trù:

1- Cái riêng – cái chung – cái đơn nhất.
2- Nguyên nhân – kết quả.
3- Tất nhiên – ngẫu nhiên.
4- Nội dung – hình thức.
5- Bản chất – hiện tượng.
6- Khả năng – hiện thực.

Tôi chỉ xin tóm lại, ba quy luật và sáu cặp phạm trù của Marx đưa ra để nói rằng, theo Marx mọi sự vật hiện tượng luôn :”Vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối”. Các mặt đối lập luôn đấu tranh để thống nhất, thống nhất xong lại đấu tranh để cho ra đời cái hay hơn, tốt hơn theo “vòng xoáy trôn ốc”, cái sau luôn mang một ít dáng dấp cái trước nhưng tiến bộ hơn, văn minh hơn, hợp thời đại hơn từ đó để Marx khẳng định bằng quy luật thứ hai, chất chỉ đổi khi lượng đã đổi đủ, theo đó không bao giờ nên phủ định sạch trơn bất cứ sự vật hiện tượng nào thông qua quy luật thứ ba. Đó cũng là cách sắp xếp theo thứ tự quan trọng và biện chứng giữa 3 quy luật này. Tất nhiên, quy luật quan trọng nhất là quy luật 1. Không có nó thì không có quy luật hai và ba. Quy luật hai và ba tác động trở lại quy luật một và hai quy luật này tác động lẫn nhau để bảo đảm đó là một quá trình vận động liên tục không ngừng. Điều này cũng phù hợp và nhất quán với bài học nhập môn đầu tiên “Vật chất và ý thức”, theo Marx vật chất quyết định ý thức và ý thức có tác động trở lại đối với vật chất – Marx cho đó là mối quan hệ hữu cơ.

Phần b, Marx chỉ có bộ “Tư bản luận”, còn cái gọi là “Kinh tế – chính trị học” như tôi trình bày là tài liệu của các “nhà kinh tế -chính trị học” thời sau Marx viết ra căn cứ vào bộ “Tư bản luận của Marx”, Marx không hề viết bất cứ học thuyết “Kinh tế – chính trị học”, cũng không có cái “Chính trị, kinh tế, xã hội học” như ông trình bày. Tại đây tôi xin nhấn mạnh, cái dấu gạch ngang giữa kinh tế và chính trị để các nhà “kinh tế – chính trị học” nhấn mạnh vai trò không thể tách rời giữa kinh tế (Vật chất) và chính trị (ý thức) nhằm phản ánh đúng tinh thần của Triết học Marx (phần duy vật biện chứng).

Phần c và phần d như ông trình bày, thật ra nó nằm trong “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” cũng do thời sau Marx viết.

Tóm lại, cách phân chia của ông cho thấy ông chưa nắm rõ về học thuyết Marx.

Tôi nhớ, cách đây hơn 30 năm, khi lần đầu tiên tôi thi vấn đáp môn Triết học Marx, đó là những kỷ niệm, suốt đời tôi không bao giờ quên, đó cũng là lý do tại sao gần 30 năm qua tôi vẫn nhớ như in để có cuộc mạn đàm với ông hôm nay. Tôi xin phép kể lại câu chuyện.

Chúng tôi, những tân sinh viên lần đầu thi một môn học mà đứa nào cũng thấy khó hiểu nên chuẩn bị khá kỹ bằng cách cố gắng… học thuộc lòng (!)học mà không hiểu thì học thuộc lòng càng khó. Thôi thì cố vậy chẳng có cách nào hơn.

Ngay buổi thi đầu tiên. Đứa bạn thứ nhất bước ra khỏi phòng, đám bạn xúm lại hỏi:

Câu chuyện thứ nhất:

– Sao, mày bốc câu gì? thầy hỏi sao?
– Câu “vật chất và ý thức”.
– Vậy ngon rồi. Sao tiu nghỉu vậy.
– Tao cũng thấy ngon. Trả lời ro ro như trong sách.
– Rồi sao?
– Thì ông thầy nghe chăm chú. Xong ổng vừa cười vừa móc túi lấy ra tờ giấy bạc và hỏi :”Theo em, tờ giấy bạc này có phải là vật chất không?”
– Tao trả lời: “Dạ phải.
– Rồi sao?
– Ông cho tao 4 điểm và bảo về học lại.
– Rồi mày có hỏi sao không?
– Có. Ổng nói :”Em nói vậy, hóa ra tiền quyết định ý thức sao?” Vậy thì người ta nói tiền quyết định ý thức cho rồi chứ cần gì nói vật chất quyết định ý thức!!!
– Rồi sao nữa?
– Lẽ ra mình phải nói tiền là một dạng của vật chất thì mới đúng.

Câu chuyện thứ hai:

Một đứa bạn khác lại bước ra

– Sao rồi mậy?
– Tao bốc trúng câu “quy luật phủ định của phủ định”
– Rồi trả lời sao?
– Thì cũng ro ro như trong sách vở.
– Rồi ông thầy hỏi sao?
– Ông cũng nghe tao trình bày một cách chăm chú và hỏi rằng:”Vậy tôi hỏi em, cái quần ống túm có phủ định cái quần ống loe không?”
– Rồi mày trả lời sao?
– Tao ngần ngừ rồi nói”Em nghĩ không phải”
– Ông thầy nói “Vậy em giải thích xem tại sao không phải?”
– Tao không giải thích được nhưng vẫn giữ ý kiến.
– Rồi sao?
– Ổng cho 6 điểm và giải thích. Vì cái quần ống túm hay ống loe cũng đều là cái quần, dùng để che thân, nó không hề thay đổi bản chất nên không thể là “quy luật phủ định của phủ định” được.

Câu chuyện thứ ba:

Đứa bạn thứ ba bước ra.

– Tao bốc câu “lượng đổi chất đổi”, cũng trả lời ro ro
– Biết rồi, nhưng ông thầy hỏi sao?
– Ổng hỏi:”Giả dụ bây giờ cái đuôi ngựa, em nhổ vài sợi lông đuôi của nó thì đó có phải là quy luật lượng đổi chất đổi không?
– Tao trả lời: không. Ổng biểu giải thích
– Tao nói: Thưa thầy, nhổ vài sợi lông đuôi thì nó vẫn là cái đuôi ngựa, khi nào nhổ hết gần 2/3 hay cắt trụi lúc đó lượng đổi (số sợi lông đuôi) thì chất mới đổi (cái đuôi ngựa không còn là cái đuôi ngựa nữa, đuôi ngựa không còn giữ đúng bản chất là đuôi ngựa). Chín điểm.

Đó là những câu chuyện triết học ứng dụng kể cho vui , chứ tôi nghĩ ông chắc còn rành hơn tôi, mục đích tôi kể cho một ít độc giả Dân Luận để chia sẻ một việc nhỏ: Triết học không khô khan, khó hiểu nếu giảng viên biết giúp sinh viên nhận ra từ những việc đơn giản, gần gũi trong cuộc sống rồi hãy nói đến những cái cao siêu hơn, lúc đó triết học sẽ rất thú vị. Tôi chỉ tiếc là đa số giảng viên dạy triết không tìm những ví dụ, câu hỏi đời thường, gần gũi cuộc sống như giảng viên ngày xưa của tôi, do đó làm cho sinh viên chán học Triết vì thấy khô khan, khó hiểu và vô vị chẳng có ý nghĩa gì trong cuộc sống. Điều quan trọng là giảng viên phải làm cho sinh viên nhận ra triết học luôn ở quanh ta, từ những cái nhỏ nhặt nhất mà ta thấy hứng thú với môn học này thì ta sẽ đào sâu nâng cao tri thức về môn học bổ ích này cho tầm cao hơn đó là triết học ứng dụng trong chính trị, trong tự nhiên, trong quan hệ xã hội, trong y học (chữa bệnh bằng tâm lý) và còn nhiều ngành học khác rất cần đến triết học nói chung và triết học Marx nói riêng (theo thiển ý của tôi, tôi chỉ chấp nhận phần duy vật biện chứng là khoa học, còn duy vật lịch sử hoàn toàn bóp méo, không phải của Marx).

Hẹn ông kỳ sau sẽ mạn đàm tiếp.

——————–

Tiếp tục cuộc mạn đàm với Tiến sĩ Trần Nhơn, tôi xin đi vào phần mà ông đã viết:

Chỉ riêng có bộ phận thứ tư, phần d) nói trên: Chủ nghĩa Mác, Chủ nghĩa Cộng sản, là có vấn đề phải xem xét, phân biệt cho kỹ từng phân kỳ (sự tiến hoá) của nó. Sau đây tôi chỉ tập trung nói về phần thứ 4, phần d) những tư duy, chủ trương, đường lối cách mạng vô sản của Mác, vì nội dung này đã gây ra tranh luận, mâu thuẫn rất nhiều trên thế giới

Theo phần mạn đàm trước mà tôi đã viết, thưa Tiến sĩ Trần Nhơn, tôi cho rằng đánh giá Marx, không thể dựa vào “bộ phận thứ tư, phần d)” như ông nói được, bởi lẽ cốt lõi học thuyết Marx chính là Triết học duy vật biện chứng, đó là cái gốc của vấn đề để tôi phân tích, phần d như ông nói chỉ là phần khai triển các ý tưởng trong học thuyết của Marx, mà những người kế tục Marx viết ra, nó nằm trong phần ba “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” – vốn không phải Marx viết.

Duy vật lịch sử như chúng ta đều biết, cốt lõi nêu lên các hình thái kinh tế – xã hội qua các thời kỳ tiến hóa của xã hội loài người gồm: chế độ Cộng sản nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản, chế độ cộng sản mà những người kế tục đã viết ra để khẳng định 3 quy luật cùng 6 cặp phạm trù của Marx là đúng. Tuy nhiên toát lên mọi bài học từng phần, từng chương, những người viết ra duy vật lịch sử đã tưởng đúng khi vận dụng học thuyết Marx để kết luận xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng theo hình trôn ốc đi từ hình thái thấp nhất là CS nguyên thủy đến CS hiện đại- cái mà người ta mong muốn và vẽ lên viễn cảnh tốt đẹp nhưng chưa bao giờ có trong thực tế, đó chỉ là “bức tranh siêu thực” mà những người này mong muốn vào lúc bấy giờ. Điều quan trọng ở đây, khi Marx đưa học thuyết của mình ra và viết lên bộ “Tư bản luận” là Marx xuất phát từ thực tế những gì con người đã và đang trải qua cho đến lúc Marx được sinh ra, lớn lên, Marx đã nghiên cứu chỉ đến thời điểm của Marx sống, thế thôi. Nếu chúng ta có thời gian xem lại duy vật biện chứng và tư bản luận, chúng ta sẽ công tâm nhận thấy Marx chưa bao giờ nói về cái gọi là “Chủ nghĩa cộng sản, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Marx đã tự đưa ra duy vật biện chứng với cái nhìn mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động thì Marx không thể nói rằng “Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa tốt đẹp nhất của xã hội loài người”, bởi lẽ nếu đó là sự thật thì Marx đã phủ định sạch trơn cái của Marx khi chính Marx tuyên bố vận động và cuối cùng lại sản sinh ra cái xã hội “tốt đẹp nhất đồng nghĩa xã hội đã đứng yên”(!) Đây là điều mà theo thiển ý của tôi nó trở nên quá vô lý, nó hầu như đánh đổ toàn bộ tất cả những gì Marx suy nghĩ và viết ra 3 quy luật cùng 6 cặp phạm trù.

Marx vạch ra những cái lạc hậu của CNTB thời đó, Marx tìm ra công thức C+V+m. Tuy nhiên, khi chúng ta đặt Marx vào thời điểm cách đây trên 150 năm thì rõ ràng Marx cũng có cái đúng của ông ấy. Với những gì xấu xa nhất của thời tư bản còn quá sơ khai, còn cướp bóc sức lao động và buôn bán con người như nô lệ thì quả nhiên những gì Marx nghĩ và viết có những cái đúng của nó. Tư bản được tích lũy vào thời điểm đó phần từ cướp bóc tài nguyên thiên nhiên bằng súng đạn, quyền lực trong tay kẻ thống trị và khai thác sức lao động của nô lệ và người công nhân vô sản có vẻ là phần nhiều hơn so với sự tích lũy tư bản từ chất xám, từ công nghệ hiện đại. Vậy thì lúc đó Marx nói về “m” là khá đúng, tuy nhiên ông ấy có sai vì ông ấy cho rằng “m” lẽ ra phải thuộc về người bị trị hoàn toàn mà không thấy vẫn phải có một phần những kẻ thống trị trong đó. Lẽ ra Marx nên nói: “m” là của cả hai trong đó , do khoa học kỹ thuật còn lạc hậu nên hầu như giá trị làm ra cho xã hội phần lớn từ cơ bắp và trí não của người lao động, tuy nhiên khi ta nói: ” khoa học kỹ thuật lạc hậu” có nghĩa ta đang so sánh thời Marx với sau này và hiện nay. Vào ngay lúc Max thì rõ ràng giá trị thặng dư do tiến bộ khoa học kỹ thuật và những chất xám của các lãnh vực khác mang lại cho nô lệ và người nông dân, công nhân chưa chiếm số nhiều khi mà những buổi hòa nhạc, những vở kịch, những tác phẩm văn học, những bữa sinh nhật vui nhộn, những công trình kiến trúc nguy nga, những chiếc xe tứ mã kiêu sa v.v… hầu như chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị thì rõ ràng Marx nhìn thấy các thành phần khác trong xã hội luôn phải phục vụ cho tầng lớp thống trị những cái xa hoa nhất là điều ta có thể hiểu và cảm thông với Marx.

Khi ta phê phán Marx hay bất cứ ai khác thì ta nên đặt nhân vật đó vào trong thời kỳ họ đang sống và đang quan sát, chiêm nghiệm những gì thực tế đang diễn ra quanh họ thi sẽ khách quan hơn. Thử hỏi nếu Marx sống lại, chắc ông hẳn ngạc nhiên lắm khi bây giờ trẻ con ngày nay có thể bắn nhau đùng đùng trên playstation, thanh niên có thể lướt web nhoay nhoáy, tin tặc có thể tả xung hữu đột khắp nơi trên toàn cầu v.v… và còn biết bao nhiêu thứ mới lạ đối với Marx. Ông ấy không có lỗi khi đưa ra học thuyết của mình, thậm chí ông ấy có cái đúng khi tìm ra C+V+m vào thời điểm đó và chỉ vào thời điểm đó mà thôi.

Có lẽ, chúng ta cần lấy một thực tế điển hình nào đó tại Việt Nam để chứng minh Triết học duy vật lịch sử đã mâu thuẫn gần như hoàn toàn với Triết học duy vật biện chứng nhằm rộng đường dư luận.

Dẫn chứng mà tôi cho rằng sống động nhất của xã hội Việt Nam chính cái gọi là “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển Chủ nghĩa tư bản”, nó hoàn toàn sai lầm mà ai cũng biết ít nhiều, tuy nhiên tôi xin phép được phân giải dưới góc nhìn của Duy vật biện chứng.

Thật vậy, cứ tạm chấp nhận nhau tiền đề “Chủ nghĩa xã hội là sự tiến hóa của xã hội loài người bằng hình thái xã hội tốt đẹp hơn nhiều so với Chủ nghĩa tư bản”. Như vậy, theo quy luật 1, có lẽ ông sẽ đồng ý với tôi, “sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập” đã diễn ra và tiếp theo đó, quy luật 2 và quy luật 3 phải nảy sinh. Đúng vậy, quy luật 2 và 3 bắt buộc phải nảy sinh để hoàn toàn đúng theo bộ ba không tách rời của học thuyết Marx và chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau cũng như tác động trở lại quy luật 1 một cách khách quan. Quy luật 2 là quy luật nói về sự vật, hiện tượng cần có lượng đổi đủ thì chất mới đổi, chúng ta thử lấy mốc vào ngày 30/4/1975 để mạn đàm cùng nhau (vì lẽ cái mốc này còn khá mới mẻ để mọi người cùng tham gia suy nghĩ và tranh luận).

Theo quy luật 2 như đã nói, chúng ta thử ngẫm những lượng nào cần tích lũy và tích lũy đủ chưa để đảm bảo quy luật 2 hoạt động? Tại đây, tôi muốn dẫn giải rõ hơn: (LƯỢNG)- Tư liệu sản xuất, quan hệ sản xuất của miền Bắc (ngay thời điểm sau 1975) và của cả miền Nam (ngay thời điểm sau 1975), đã đảm bảo cho (CHẤT) “tiến thẳng lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN”? Chắc chắn là không. Không bởi lẽ, nền kinh tế miền Bắc lúc bấy giờ là nền kinh tế thời chiến, sản xuất, phân phối, lưu thông không hề theo quy luật thị trường (vì đâu có kinh tế thị trường), đó là điểu dễ hiểu, chủ yếu miền Bắc duy trì xã hội bằng sản xuất tự cấp tự túc và nhận viện trợ, tất nhiên đó không hề là nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, ở miền Nam, mặc dù chưa phải hòan toàn là một nước phát triển như phương Tây, nhưng nó đã hình thành hẳn hòi một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa của nó.

Rõ ràng LƯỢNG ở đây còn quá thiếu thốn làm sao CHẤT đổi được (cũng như cái đuôi ngựa). Ngay sau 1975, nếu người ta tỉnh táo và có đủ hiểu biết thì lẽ ra điều nên làm là TĂNG LƯỢNG ở miền Bắc sao cho ĐỦ (cứ tạm giả sử kìm hãm miền Nam vào thời điểm đó cứ y như thế, không để phát triển thêm mà chỉ duy trì ổn định thôi – đây là phân tích khoa học, các độc giả nhé, hãy bình tĩnh) như LƯỢNG của miền Nam vào thời điểm đó (cứ tạm chấp nhận LƯỢNG ở miền Nam là đủ), sau đó sẽ cùng miền Nam nắm tay đi tiếp…

Tuy nhiên, ngay tại đây sẽ phát sinh ngay lập tức câu hỏi : “Đi đâu?”. Vâng đúng vậy, không thể đi ngay lên CNXH mà không thể không qua CNTB. Tại sao? Đó cũng là vấn đề lượng và chất. Thật đơn giản.

Giả sử, nếu tình hình diễn ra theo kịch bản tôi vừa nói, sau 10 năm miền Bắc đuổi kịp miền Nam về lượng và trong trường hợp tuyệt vời nhất, cả hai miền cùng đã có sự tương đồng về lượng thì cái LƯỢNG này đã đảm bảo đủ cho việc tiến lên CNXH (CHẤT) ngay chưa? Chưa, chắc chắn là chưa. Vì sao? Vì, LƯỢNG cần tích lũy là bao nhiêu để đảm bảo cho cái CHẤT (XHCN) nảy sinh? Đến giờ này chưa hề có một ai có thể LƯỢNG HÓA vấn đề này để đảm bảo những tiêu chuẩn nào cho việc đi lên CNXH, mà bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.

Tôi nghe nói các quốc gia như Đan Mạch, Na Uy hình như đang có hình thái mà có thể gọi là CNXH, không biết có đúng không, có lẽ những người đang sinh sống tại các quốc gia này có thể cho ý kiến thì xác thực hơn.

Như vậy, cái sai lầm nhất là người ta đã không hề hiểu đủ về quy luật 2, người ta đã bỏ qua một cách thiếu tri thức về lượng và chất ở đây để áp đặt một suy nghĩ cực đoan và viễn vông: ta cứ tiến thẳng lên CNXH mà không cần bọn tư bản xấu xa, chỉ biết bóc lột và bóc lột. Sai lầm này đã dẫn đến quy luật 3 hoạt động méo mó là điều dễ hiểu, nó dẫn đến phủ định sạch sẽ tất cả những thành quả mà chế độ Tư bản đạt được (sau khi Marx chết cả gần trăm năm). Những người mang danh trung thành với Marx đã không ghi nhận sự vận động và tiến bộ không ngừng của CNTB. Họ – những người mang danh trung thành với Marx đã phản bội Marx từ một tư duy nhỏ mà vô cùng quan trọng – tư duy vận động là tuyệt đối. Trong mắt họ, CNTB là thế và mãi là thế. Họ buộc người dân Việt Nam phải thấy một sự thật phi lý : xã hội Tư bản đang đứng yên như hồi nào giờ nó đứng yên. Nó chẳng mảy may di chuyển, vận động gì cả. Rõ ràng họ muốn người dân nhìn thấy chế độ Tư bản đứng yên ở góc độ xấu xa và điều này được gọi tên là “duy ý chí”.

Trong một cách nhìn song song của tư duy “đứng yên, vận động”, người ta cũng không chịu nhìn thấy môt điều cũng đơn giản không kém, muốn phủ định (cái mà ta ghét cay ghét đắng nó) thì điều kiện cần và đủ là gì? không ai chịu suy xét cả, song song đó, giả sử nếu đã có điều kiện cần và đủ thì phủ định cái gì? cũng chẳng ai chịu suy xét cả, thế là kết quả “phủ định sạch trơn” miền Nam là nguyên nhân của cái không có học hoặc học không đầy đủ và không nắm chắc. Việc miền Nam đi thụt lùi theo miền Bắc là điều quá hiển nhiên theo nguyên lý: SAI (nền kinh tế miền Bắc và miền Nam không tương thích) + SAI (không hiểu duy vật biện chứng của Marx) = ĐÚNG (tụt hậu). Miền Nam thụt lùi thì hậu quả cả nước thụt lùi là quãng thời gian 35 năm qua, ai cũng thấy rõ.

Nói hình tượng một chút như thế này, em tôi đang chạy trước tôi 1km, tôi – với sức già lẽ ra bảo nó, mày chạy chậm chậm lại chút, cho anh theo kịp, nhưng tôi đã bực bội vì sức trẻ, vì kỹ thuật chạy của nó nên tôi dùng “quyền huynh thế phụ” buộc nó chạy thụt lùi, giá như tôi vì tương lai con nó và con tôi chí ít tôi chỉ cần ép nó mày đứng yên đấy khi nào tao tới rồi tao và mày cùng chạy thì Việt Nam đã đỡ hơn khá nhiều trong 35 năm qua, đằng này tôi buộc nó chạy thụt lùi mà mặt thì cứ hướng về đằng trước, nó không vấp té gãy giò, gãy cẳng, nó không hận tôi thì mới lạ (!). Điều này cũng có thể dùng 6 cặp phạm trù để lý giải được.

Để mang tính thời sự và dễ tranh luận nhau hơn về học thuyết của Marx, tôi xin lấy ngay vụ án “lật đổ chính quyền nhân dân” (để cho gọn từ đây xin phép gọi tắ là vụ án) mà Nhà nước vừa xử vào ngày 11/5/2010.

Quy luật 1 đã nảy sinh (sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập), vì sao nảy sinh thì đã có nhiều bài phân tích, tôi xin phép không phân tích nữa mà đi vào quy luật 2 và 3.

Vụ án được đưa ra, được điều tra, khởi tố v.v… xuất phát từ các hành vi của Thức, Định, Long, Trung mang tội danh “lật đổ”. Các hành vi của các anh ấy chính là LƯỢNG (hội họp bàn bạc, viết tân hiến pháp, đi nước ngoài tập huấn v.v… – theo cáo trạng), dưới góc nhìn của các anh ấy có vẻ như LƯỢNG đang dần dần tích lũy nhiều lên và các anh ấy đang hướng đến CHẤT (kết quả đòi hỏi đa đảng thành công), nhưng rất tiếc lượng của các anh ấy chưa đủ, vì ngay từ đầu các anh ấy đã không tiên lượng tất cả những lượng nào cần phải có, theo thiển ý của tôi, ngoài những lượng các anh ấy tạo ra còn những lượng khác ví như: lực lượng quần chúng đủ lớn, sự ủng hộ của các nhân vật thế lực ngay trong ĐCSVN, sự ủng hộ của thế giới, vị thế Đảng dân chủ đã có đủ thực lực chưa v.v…, còn khá nhiều vấn đề để chúng ta rút ra sự thất bại từ các anh ấy. Nhưng dưới góc nhìn của nhà nước thì lại khác, LƯỢNG ĐỦ RỒI (hành vi các anh ấy, các chứng cớ, các tài liệu v.v…) nên CHẤT phải đổi (bắt giam và truy tố). Nếu nhà nước không làm chất đổi theo cái cách họ nhìn thấy là đã đủ lượng thì họ sợ một ngày nào đó, lượng của các anh ấy đủ thì chí nguy! Đó là sự thật hiển nhiên.

Như vậy sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất còn tùy thuộc một phần sự nhìn nhận chủ quan và theo từng góc độ của sự vật hiện tượng, ở đây sự việc của vụ án dưới góc nhìn của nhà nước khác, dưới góc nhìn của Thức, Định, Long, Trung khác, dưới góc nhìn của người dân khác và kể cả dưới góc nhìn của cá nhân , tổ chức nước ngoài v.v… Từ đây, quy luật 3 được nhà nước sử dụng sai lầm một lần nữa, phủ định sách trơn tất cả những gì các anh ấy làm, chính lẽ đó mà các tổ chức, cá nhân tên tuổi, một bộ phận nhân dân VN trong và ngoài nước lên án những vi phạm thô bạo về các cam kết quốc tế về những mặt nhân quyền, tự do ngôn luận, biểu tình, lập hội v.v… Quả đúng vậy, nhà nước này đang dùng quy luật 3 rất méo mó để hành xử với xã hội. Chúng ta ngẫm xem, tất cả họ đều phủ định sạch trơn hết từ việc nhỏ đến việc lớn ví dụ : việc mời Thiền sư Nhất Hạnh tới Đại sứ quán VN tai Pháp để thanh minh về vụ Bát Nhã, lá thư gởi ông Joseph Cao, xử những người dân yêu nước v.v… cho đến những chính sách kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế v.v… nhà nước vẫn một tư duy phủ định sạch trơn, họ chỉ làm theo những gì họ nghĩ ra được và họ cho là đúng. Một tư duy phản bội lại Marx mà có lẽ họ cũng chẳng hề hay biết, vì Marx đã trở thành cái gì quá xa và chỉ còn là cái bình phong hoặc cái phao cho họ bám vào trong cơn hụt hơi giữa biển cả tri thức và sự tiến bộ mênh mông của loài người.

Các phân tích nói trên để xác nhận Marx luôn nhìn sự vật và hiện tượng VẬN ĐỘNG, đó chính là điều quan trọng nhất khi nghiên cứu về Marx.

Để kết thúc cuộc mạn đàm ở đây, tôi xin kể hầu quý vị câu chuyện vui nữa. (cũng về triết học)

Năm thứ hai đại học, khi thi về Kinh tế – chính trị học, tôi bắt được câu (không nhớ chính xác câu hởi)so sánh kinh tế TBCN và XHCN để nói lên tính ưu việt của chế độ XHCN. Sau khi trả lời theo sách vở, tôi đã “ngây ngô” hỏi thêm giảng viên:

– Thưa cô, em học kinh tế – chính trị và trước đó là Triết học, sao thấy nó kỳ kỳ sao đó cô!

– Sao lại kỳ, kỳ thế nào, em nói tôi nghe thử?

– Theo Marx, mọi sự vật và hiện tượng luôn vận động, sự đứng yên chỉ là tương đối, ngay cả khi ta chết, xác ta cũng đang vận động (phân hủy) phải không cô?

– Đúng rồi. Mọi sự vật hiện tượng, không có gì là không vận động.

– Vậy sao em học lại thấy viết xã hội của Chủ nghĩa cộng sản là xã hội tốt đẹp nhất mà loài người tìm ra. Vậy không lẽ, khi đạt được tới đó là hết, xã hội không còn tiến hóa sao cô? điều đó đi ngược lại với quan điểm của Marx.

– ….

Sau đó, tôi “được” điểm bốn cho môn này và tôi phải thi lại lần hai mới đạt để lên khóa. Tôi buồn vì điểm bốn thì ít mà buồn vì giảng viên né tránh khoa học thì nhiều. Có lẽ đó là một trong những kỷ niệm đáng nhớ của tôi thời sinh viên.

Hẹn cuộc mạn đàm kế tiếp.

Nguyễn Ngọc.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s