Shinkansen – Niềm tự hào của châu Á trong ngành công nghiệp đường sắt thế giới

Aikoku2027's Blog

Phần I – Lịch sử tổng quát về Shinkansen

hayabusa2.jpg

Trước khi viết bài này, tôi còn nhớ lại khoảng thời điểm nữa đầu thập niên 90 thế kỷ trước, tại Sài Gòn lúc bấy giờ có bán các loại tập vở (con nai?) cho học sinh mà bìa phía sau in các loại tàu cao tốc của thế giới. Thời đó tôi chỉ có thể nhìn những tấm hình đó cùng các con số về tốc độ của nó mà mơ tưởng một ngày nào đó mình sẽ được ngồi lên các con tàu cao tốc đó. Do hoàn cảnh may mắn mà ít lâu sau tôi được du học sang Nhật, nhưng cũng phải hai năm sau khi đặt chân tới Nhật, tôi mới chính thức ngồi lên một chuyến tàu cao tốc Shinkansen của Nhật trong chuyến đi từ Tokyo xuống Kyoto. Cảm nhận đầu tiên của tôi…

View original post 4,865 more words

Facebook is banned again by the goddamned government!

Yes, again, and this time, more brutal methods were employed.

Since changing DNS server address to OpenDNS no longer works, Facebookers in Vietnam are searching for other more efficient countermeasure. Hotspot shield and Ultrasurf are the most recommended workaround. However many reported that although advertised as “fast and secure”, Ultrasurf and Hotspot can not even fetch FB homepage, and this complicate procedure slows down FB speed a lot, especially images and games. We can expect it’s normal since those software only search for free proxy. No proxy can serve that much traffic requesting FB at normal speed.

It’s happy to live in a social republic country…

This article is great. Got it from the internet (not after reading it did I know why they [the ISP] didn’t filter Facebook’s IP before). During this “sensitive time” of the year (right before the Party’s ‘festival’) a more expensive and “exhaustive” method were called. Just hope that it would be untied after that. Otherwise, even there’s some people can find away ’round the firewall, the censorship is enough to kill the FB’s user base in Vietnam.

Let me tell you the difference between Facebook and everybody else. We don’t crash ever!
If the servers are down for even a day, our reputation is irreversibly destroyed.
Users are fickle. Friendster proved that. Even a few people leaving would reverberate through the entire user base.
The users are interconnected. That’s the whole point. College kids are online because their friends are online, and if one domino goes, the other dominoes go.

Mark Zurkerberg – From “The Social Network”

Continue reading “Facebook is banned again by the goddamned government!”

Bức tường Berlin

Một trong những bài viết hay nhất của Huy Đức.

——————————————————————

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”.

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”.

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.


Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết những quyền tự do căn bản của con người.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”.

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”.

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức.


Làm gì có ích một chút!

Hôm nay đọc phải bài viết của thằng cha này tự nhiên thấy… khó chịu, ngứa tay phải viết lách phát.

Vẫn là vụ Fields! Hóa ra không chỉ VN có những người vỗ ngực là doanh nhân hoặc là “lo cho đất nước”, nên “dạy bảo” mấy nhà toán học là làm ra mấy thứ đó làm gì, dùng trí tuệ đấy đi kinh doanh hoặc “làm gì có ích” có phải hơn không. Tây, có những chú ko phải là làm toán thi quốc tế như Trung Hà rồi chuyển thành doanh nhân, mà giờ vẫn là GS toán hắn hoi, nhưng cũng có những câu hỏi y chang vậy. Mới thấy những người làm đến khoa học đỉnh cao như NBC hay Fields Laureates, Nobel Laureates nói chung thật cô đơn biết bao.

Thật khó tin chú viết bài này là một Israeli mathematician, board governor của Rutgers Univ, NJ, có nhiều đóng góp trong toán tổ hợp. Cách viết bài không giống dân khoa học chân chính, vì nếu thực sự làm khoa học sẽ không viết lách title to đùng ngã ngửa, giọng lưỡi thì lên giọng kiểu “làm ơn làm gì có ích một chút” như vậy. Nghe hao hao giọng vài “doanh nhân” bình luận vụ NBC.

“Being a good mathematical citizen, I tried to understand, at least superficially” Ok, good. Everyone who has interest in those works can pay some attention try to understand what they’re about. Nhưng đến việc chú í than vãn là không hiểu nổi các công trình ấy và “felt really dumb”, thì lố bịch. Việc không hiểu những công trình ấy có phải là gì kém cỏi, xấu xa lắm không?

Và để tự thấy là mình ko đến nỗi dumb, chú vào blog của Terence Tao, thấy Tao giải thích nên vỡ ra được một chút, và để lại vài dòng là chỉ có tầm 20 người REALLY understand his work thì chú thở phào: à như vậy mình cũng ko dumb lắm, đến Terence Tao còn không thực sự hiểu hết cơ mà. Và sau khi nắm được chút 4 người kia làm gì, thì còn lại 1 chút ấm ức: mấy thứ đó chả có cái đếch gì thú vị! Không đọc profile thì có cảm giác chú này nói chung hơi bị obsessed về IQ và khá loser.

Ô hô ai tai. Khổ thân các nhà toán học quá, họ là những người làm việc trong lĩnh vực quá pure, nên ít người hiểu họ, và không ai hiểu nổi, họ lạc lõng trên đời. Thường thường những thứ application sẽ đẹp mắt hơn, người ta thấy được “à, cái này làm được trò này hay quá”. Ngay cả application maths, dù cũng là toán, nhưng đã “đẹp mắt” hơn toán học lí thuyết rất nhiều. Thế nhưng toán ứng dụng cũng là thoát thai từ toán lý thuyết, vấn đề là có ai tìm ra cái connection để ứng dụng không, có ai tìm đến 1 vấn đề gì đó mà phải dùng lí thuyết đã có để giải bài toán của mình không, đến lúc đó nó sẽ thành ứng dụng. Đó KHÔNG phải là việc mà các nhà toán học lý thuyết theo đuổi! Họ chỉ mải mê với pure maths càng ngày càng mở rộng, đồng nghĩa với cái nhánh của riêng mình càng ngày càng càng hẹp. (Chính ra Fundamental Lemma đã làm được 1 việc rất ý nghĩa là bước đầu tạo điều kiện để connect 2 nhánh siêu lớn của toán học, chứ không phải là mở ra thêm một nhánh siêu mới và siêu hẹp nữa).

Phân tích Fourier được nhà toán học, vật lí học cùng tên tìm ra vào thế kỉ 18, lúc đó chắc cũng chỉ có “không đến trăm người” hiểu được công trình của ông. Lúc đó nếu có những chú thế này viết bờ lốc, chắc cũng sẽ ngôn ra rằng: phát hiện này cũng…thu thú nhỉ, một hàm bất kì bao giờ cũng có thể phân tích thành tổng của các hàm sine và cosine, là các hàm harmonic, nhưng cái đó thì… làm được gì? Có gì thú vị hơn nữa không khi phân tích một hàm ra 1 chuỗi lùng nhùng như vậy? Lúc đó Fourier cũng chỉ dùng nó để giải bài toán cụ thể của mình chứ ông cũng không nghĩ được rằng ngày nay phân tích F đã phát triển và trở nên quan trọng như thế nào trong xử lí tín hiệu, điều khiển, tự động hóa,… phải nói là cực rộng. Không có phân tích F thì không có bộ mặt của engineering như ngày nay, không phát thanh truyền hình số, không thông tin quang, không robot tự hành… Vâng nhưng ông chế ra nó sớm hơn đến 1 thế kỉ rưỡi (tầm năm 1800) trước khi xử lí tín hiệu bùng nổ (tầm 1950). Không biết đến lúc hết đời, ông đã thấy được chuỗi Fourier có gì hay ho hơn ngoài việc giải phương trình truyền nhiệt chưa, và đảm bảo cho nhiều người hiểu được chưa (nay thì SV kĩ thuật buộc phải biết Fourier analysis). Vì ngày nay thì cũng có những GS toán than rằng:

“Please diversify!, expand!, and try to prove (in whatever level of rigor you can master) results that are (i) interesting (ii) that I and my fellow mortals can understand and appreciate.”

How ridiculous! Why do I need to make my maths interesting and comprehensible to you? Nếu như phép tính tích phân chỉ được 1 người hiểu là để tính diện tích bên dưới đồ thị hàm số thì nó sẽ trở nên vô dụng chả có gì “cho cuộc sống”, nhưng VD biết rằng phải dùng đến tích phân để tính động lực dòng chảy, tính độ nghiêng thân tàu, độ cong của cánh máy bay sẽ thấy nó hay, nó có ích. Tìm ra phân bố số nguyên tố lớn hay thuật toán đồng dư (modulo) phát biểu ra cũng có gì hay? Nhưng áp dụng được nó vào làm mã hóa công khai thì người ta trầm trồ vì đó là một phát kiến lớn. Search engine của Google là một cỗ máy indexing và tính toán trị riêng ma trận vĩ đại nhất thế giới. Tất nhiên không có nhà toán học nào ra vỗ ngực “nhờ những công trình của tôi về biểu diễn ma trận thưa (sparse matrix) hay ước lượng eigenvalue nhanh nên Google mới chạy đấy nhé”. Một thầy giáo mà chỉ truyền đạt được cho học sinh rằng phép vi phân rất quan trọng, phải nhớ kĩ vì nó dùng để tính điểm dừng và kẻ tiếp tuyến (!) (còn giải bài toán đồ thị thi ĐH) thì đó là một thầy giáo tồi.

Các nhà vật lí được giải Nobel năm 2007 do tìm ra hiệu ứng từ trở khổng lồ (GMR) thật may mắn vì hiệu ứng đó được tìm ra cách đây khoảng 20 năm, và khi họ nhận giải thì đã có ứng dụng: thay vì ổ cứng máy tính dăm trăm Mê (chứ ko phải G, cái ổ cứng trong PC đầu tiên của mình năm 94 là 250MB) thì nay đã có ổ phổ thông hàng Tetrabyte. Thế nên ko có ai viết blog/viết báo rằng “cái hiệu ứng của nợ đấy làm được việc gì?”. Việc tìm ra rằng GMR có thể áp dụng làm ổ cứng không phải việc của những nhà vật lí thuần túy như vậy (và nếu không có được ứng dụng trong làm hard disk thì cũng không biết GMR có ứng dụng gì thực sự practical hơn). Tìm ra là việc của những người khác, những người làm việc R&D, những người làm applied tech.

Thế giới có thể chỉ có hơn 20 nhà toán học THỰC SỰ hiểu công trình được giải Fields vừa rồi, nhưng có rất nhiều người hiểu được nó ở những mức độ khác nhau, và họ không vì không hiểu được hết mà vặn vẹo rằng “nó làm được gì”, “tìm ra cái này đâu có giàu” hay hoành hơn là “sao chả thấy nó có gì thú vị cả” (?!?). Thế nên cộng đồng vẫn vinh danh những nhà toán học trẻ đó.



Để kết, mượn mấy lời từ FB anh Đắc.

Cũng giống như một ngày kia, bạn vốn rất thích chơi billard, và giành được HCV vô địch thế giới. Mọi người tung hô, nhưng có 1 người nói rằng, Việt Nam cần một Lý Quang Diệu hơn một Lý Thế Vinh.

Hoặc như mai kia, Nguyễn Quang Dũng làm được bộ phim Mùi thum thủm thơm (mùi… sầu riêng, keke) giành được Oscar phim nước ngoài hay nhất! Cả nước đổ xô đi xem, và có người thì nói rằng, ồ, dân Việt nghèo lắm, cần đủ lúa gạo cho chắc bụng hơn là đi xem mấy thứ này.

Những lúc ấy giữa vầng hào quang rực rỡ, Bảo Châu, Thế Vinh, hay Quang Dũng đều gãi đầu lúng túng! Ơ, họ nói có lý! Thế thì mình đã phí cả cuộc đời này ư??? Nhưng mình chỉ biết cầm bút, cầm c…ơ, mình đâu biết làm chuyện kinh bang tế thế? Mà cứ cho là mình làm được đi nữa, thì mình ..đâu dám làm!

(…)

Đùa tí thôi, trong biết bao gia đình đã xảy ra mâu thuẫn khi định hướng nghề nghiệp giữa cha mẹ và con cái. Chúng muốn làm bình luận viên bóng đá để được nổi tiếng như …Tạ Biên Cương, hay chúng muốn học toán để được huy chương Fields như Ngô Bảo Châu, đâu có gì xấu? Chúng có quyền, và văn hóa phương Tây tôn trọng cái quyền đó của chúng hơn là phương Đông. Ở phương Đông, xem ra người ta còn muốn áp đặt cái quyền đó ra khỏi phạm vi gia đình mình, và áp đặt cho cả những thiên tài!

Trong một đất nước 86 triệu dân, có 100 đứa trẻ thích bán xôi hơn là làm bác sĩ, không hề gì! Vì luôn có hàng ngàn hàng chục ngàn đứa trẻ khác thích làm bác sĩ, làm luật sư, làm kỹ sư, làm nhà báo, v…v… và làm toán, như Ngô Bảo Châu.

(…)

Việt Nam có một Bill Gates, một Bill Clinton hay không, xin đừng trách Ngô Bảo Châu! Tội lắm!

Very funny, Peter!
Infinity

Bởi đất nước mang hình dấu hỏi…?

Kính tặng các Đại biểu Quốc hội Việt Nam!

Nguyễn Lương Hải Khôi
(Tokyo)

“BÁO CÁO GIẢI TRÌNH BỔ SUNG Dự án Đường sắt cao tốc Hà Nội – thành phố Hồ Chí Minh” viết ngày 4/6/2010 mà Bộ Giao thông Vận tải trình Quốc hội chứa dựng những phi logic nghiêm trọng.

Nhìn từ Báo cáo này, có thể thấy, để sự nghiệp Hiện đại hóa ở nước ta tiếp tục tiến bước, việc xây dựng năng lực tư duy chiến lượcmột cấu trúc thích hợp cho tiến trình ra quyết định ở những quyết sách lớn, đã trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.

I.  Sai ngay từ khâu đầu tiên: Bài toán đặt ra

Trong việc làm toán, có thể tất cả câu trả lời đều sai, vì… bản thân đề toán đã sai. Trong bài viết “Đường sắt cao tốc – Khi số liệu và thực tế cách xa nhau” công bố trên Tuần Việt Nam (bản chi tiết đăng trên viet-studies), Huỳnh Thế Du nhận xét về bài toán mà dự án đường sắt cao tốc đề ra: nhu cầu đi lại đã được thổi lên cao hơn ít nhất hai lần so với thực tế có thể xảy ra và năng lực vận tải đã bị hạ thấp gần một nửa.

Như vậy, trong Báo cáo nói trên, cả một siêu dự án được vạch ra để thỏa mãn một nhu cầu không có thật, và để khắc phục những yếu kém không có thật.

Đối với ngành đường sắt Việt Nam, bài toán cần đặt ra là, giữa đường sắt Bắc Nam, và đường sắt nội đô ở những đô thị đóng góp ngân sách chủ yếu, đường sắt nội bộ trong các vùng kinh tế trọng điểm, thì cái nào cần làm trước? Cái nào nên làm sau? Bài toán này cần trả lời trước thì lại không suy nghĩ.

Một khi những con số về nhu cầu và lợi ích mà đề toán dựa vào vốn đã bị bóp méo thì mọi lời giải cho bản toán ấy đều sai.

Cho nên Báo cáo này phi lý không chỉ ở từng chi tiết cụ thể mà còn phi lý ở toàn bộ mạch lập luận.

II. Tính phi logic của toàn bộ mạch tư duy

Báo cáo đưa ra 4 phương án làm đường sắt Bắc Nam, sau đó chứng minh rằng 3 phương án đầu nhiều hậu quả, không hiệu quả và nhiều khó khăn, rồi kết luận nhất định phải làm phương án 4.

Sau đó, báo cáo đi vào biện minh cho việc chọn phương án 4, bất chấp một thực tế là phương án 4 cũng gây ra tất cả những hậu quả và gặp những khó khăn mà 3 phương án đầu cũng có, cộng thêm cả những hậu quả ghê gớm mà chỉ phương án 4 mới có.

Trong 4 câu trả lời mà người làm toán có thể nghĩ ra, nếu 3 câu trả lời đầu là sai thì không có nghĩa là câu còn lại phải đúng. Câu trả lời số 4 có thể sai tệ hại hơn ba câu trước. Phép loại suy không thể áp dụng ở đây.

Mặt khác, như trên đã nói, cả 4 phương án này đều sai. Bởi lẽ, 4 phương án này là 4 câu trả lời cho một đề toán ra sai. Dù có chọn lời giải nào đi nữa thì cũng không ổn.

III.  Tính phi logic trong từng tư duy trọng yếu

1)    Chấp nhận rủi ro theo kiểu gì?

Ở phần giải trình vì sao phải loại bỏ phương án 1 và 2, Báo cáo viết:

Nếu mở rộng thành đường đôi, khổ 1.435 mm thì phải mở rộng ít nhất là 15 m, khối lượng công tác giải phóng mặt bằng rất lớn. Việc thu hồi đất để mở rộng đường khổ 1.000 mm thành khổ 1.435 mm và làm thêm một đường khổ 1.435 mm bên cạnh ở các đô thị hầu như không khả thi.

Nhưng ở đoạn sau, nếu mà Quốc hội cho làm tàu cao tốc Shinkansen, thì sẵn sàng “khắc phục” những khó khăn lớn hơn thế:

Qua khảo sát nghiên cứu, Dự án có thể làm khoảng 16.500 hộ gia đình bị ảnh hưởng về đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; với chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 34.208 tỷ đồng, trung bình một hộ gia đình sẽ được bồi thường khoảng 2 tỷ đồng.

2)    Cách so sánh lạ lùng về thiệt hại rừng

Cũng với tinh thần “thà hi sinh tất cả để làm tàu Shinkansen”, Báo cáo viết:

Theo nghiên cứu sơ bộ hiện nay, dự án ảnh hưởng đến hơn 1.400 ha rừng. Tuy nhiên, căn cứ theo quy mô dự án và chiếm dụng đất của dự án thì diện tích rừng bị ảnh hưởng không cao so với các dự án đường bộ hoặc đường bộ cao tốc.

Đưa ra 4 phương án, rồi lựa chọn phương án 4 vì cho là nó “ưu việt” hơn 3 phương án còn lại. Thế thì phải chứng minh cho điều trên. Chẳng hạn, như Báo cáo nói, tàu Shinkansen sẽ ảnh hưởng đến hơn 1.400 ha rừng. Vậy thì phải chứng minh rằng phương án 1,2,3 mất nhiều rừng hơn thế, và để bảo vệ rừng, phải chọn phương án 4, thì mới logic.

Sao lại so sánh với… đường bộ? Vì rõ ràng, các phương án 1,2,3 ảnh hưởng đến rừng ít hơn thế nhiều lần, thậm chí không ảnh hưởng.

3)    Cách hiểu “độc đáo” về “tiết kiệm”

Bàn về lợi ích của dự án, Báo cáo viết:

“Các lợi ích đã được định lượng bao gồm: tiết kiệm chi phí thời gian đi lại của hành khách; tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện vận tải khác”

Đọc đoạn này, không thể hiểu được Báo cáo muốn nói gì.

Khi Báo cáo nói tàu Shinkansen “tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện khác” thì có thể hiểu là nó “tiết kiệm” cho máy bay của ngành hàng không.

Nghĩa là, giả sử những người lâu nay có nhu cầu lưu thông Bắc Nam bằng máy bay, nếu thấy nên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ thay vì tiết kiệm 3 tiếng đồng hồ, sẽ bỏ hàng không để đi Shinkansen.

Thế là Vietnam Airlines phải cho hàng loạt máy bay đắp chiếu. Không cẩn thận thì phá sản. Đó là một hình thức “tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện vận tải khác” mà Báo cáo muốn nói tới?

“Tiết kiệm thời gian” thì không phải so sánh với máy bay, vì máy bay chỉ mất 2h Bắc Nam. “Tiết kiệm thời gian” là tiết kiệm so với xe khách đường bộ và đường sắt thường. Nhưng, nếu hầu hết người Việt Nam, khi có nhu cầu lưu thông Bắc Nam, thấy cần tiết kiệm một khoản tiền lớn, hơn là tiết kiệm vài tiếng đồng hồ thì sao?

Mặt khác, nếu hạ giá vé xuống thật thấp, thì sẽ “tiết kiệm” các ngành giao thông khác, nhưng Nhà nước sẽ phải bù lỗ để duy trì sự hoạt động của hệ thống Shinkansen. Như vậy, “tiết kiệm” ở mặt này nhưng sẽ tiêu hao ở mặt kia: Nhà nước tiêu tốn thêm ngân sách, các ngành giao thông liên quan thì thiệt hại lợi nhuận.

Vậy, Báo cáo đang muốn “tiết kiệm” cái gì?

4)    Giảm tai nạn giao thông trong tưởng tượng?

Và đây, tàu Shinkansen sẽ “…giảm chi phí xã hội do giảm tai nạn giao thông đưòng bộ…” “Ngoài ra, văn hoá giao thông sẽ được nâng cao qua việc người tham gia giao thông được sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, chính xác, an toàn”

Tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra tại các đô thị lớn. Văn hóa giao thông hỗn loạn của Việt Nam cũng chỉ vì có một lượng xe máy khổng lồ dồn vào trong một đô thị chật hẹp.

Trí tưởng tượng nào có thể hình dung ra được rằng, khi những chiếc tàu Shinkansen kia chạy trên đường sắt Bắc Nam thì… người Đà Nẵng không cần đi lại trong thành phố bằng xe máy nữa, tai nạn trong nội đô Hà Nội sẽ hết, người dân Tp. Hồ Chí Minh có thể đi lại một cách văn minh trong khi đường phố thì như bát quái trận đồ?

Nhưng ngược lại, một mạng lưới đường sắt nội đô thì sẽ giảm thiểu nhu cầu sử dụng xe máy. Và ở những vùng kinh tế trọng điểm, một mạng lưới đường sắt nội bộ vùng, nối thành phố trung tâm và các vệ tinh, sẽ giúp người dân có thể sống ở các vệ tinh vẫn có thể làm việc ở trung tâm, nghĩa là có thể giãn dân cho các trung tâm, giảm hẳn áp lực giao thông nội đô, điều chỉnh giá bất động sản trong vùng.

Hiệu quả kinh tế xã hội của hai hệ thống này (đường sắt nội đô và đường sắt nội bộ vùng) có thể được thuyết phục một cách logic. Đây là kinh nghiệm đã thành công ở chính Nhật Bản, một nước có… chỉ số IQ “cao”, như hình dung của ông Đại biểu tỉnh Hà Nam.

Nhật Bản đã hoàn thiện 2 hệ thống này trước khi làm Shinkansen toàn quốc.

5)    “Hiệu quả xã hội” không liên quan đến “hiệu quả kinh tế”?

Cứ theo cách nghĩ của Báo cáo thì hiệu quả kinh tế của dự án là thấp, nhưng hiệu quả xã hội cao. Như vậy, hiệu quả xã hội có thể có mà không liên quan đến hiệu quả kinh tế.

Nhưng ở một công trình giao thông như đường sắt Shinkansen Bắc Nam, hiệu quả xã hội tỷ lệ thuận với hiệu quả kinh tế. Những hiệu quả mà Báo cáo có thể nghĩ ra: giảm tai nạn giao thông, nâng cao văn hóa người Việt, hiện đại hóa đất nước, tiết kiệm thời gian đi lại, tiết kiệm chi phí của các ngành giao thông liên quan (nghĩa là cho họ “đắp chiếu”)… đều là những “hiệu quả” chỉ có thể có khi đi kèm với hiệu quả kinh tế (số người sử dụng cao).

Ai có thể tưởng tượng ra được “hiệu quả xã hội” mà những toa tàu Shinkansen trống rỗng có thể tạo ra đối với một dân tộc đang đứng dưới chân đường sắt nhìn lên?

6)    Cách tính tỷ lệ kỳ quặc

Giáo sư Trần Văn Thọ, trong bài Đường sắt cao tốc – Việt Nam hôm nay và Nhật Bản 50 năm trước – chỉ ra rằng khi Nhật làm đường sắt cao tốc đầu tiên, trong 5 năm, chi hết 380 tỷ Yên, bằng 2,4% GNP.

Báo cáo này cũng cho rằng nếu đầu tư làm “đường sắt cao tốc”, Việt Nam còn chi ít hơn nữa: từ nay đến 2020, chi phí làm đường sắt cao tốc chỉ chiếm 1,7% GDP (21 tỷ), theo kịch bản GDP tăng 5,5%, hoặc chỉ chiếm 1,5% GDP, theo kịch bản GDP tăng 7,5%.

Sự phi logic thể hiện ở 2 điểm:

–   Nhật chi 2,4% GDP là hoàn thành đường cao tốc đầu tiên. Còn khi Việt Nam chi 1,7% hoặc 1,5% GDP mỗi năm cho công trình thì công trình vẫn chưa hoàn thành, vẫn chỉ là một đống bê tông sắt thép, chưa dùng được vào việc gì.

–   Tỷ lệ của GDP dự kiến ở năm 2020 và số tiền chi cho dự án ở từng năm, thực chất, là con số không có ý nghĩa gì. Dự án sẽ hoàn thành vào 2035. Vậy, nếu lấy GDP dự kiến năm 2035 chia cho chi phí từng năm của dự án thì tỷ lệ còn nhỏ hơn thế nữa.

Báo cáo nói rằng chỉ dùng hết số tiền 55,88 tỷ USD kia vào năm 2035, khi dự án hoàn thành. Cứ cho là GDP Việt Nam hiện nay đã 100 tỷ (tưởng tượng như vậy cho đẹp), và đặt giả thuyết Việt Nam từ đây đến 2035 tăng trưởng liên tục 6,5% / năm, thì khi đó, GDP Việt Nam khoảng hơn 480 tỷ USD. Tỷ lệ 480/ 55,88 là khoảng hơn 11% GDP.

Có một con số liên quan mà Báo cáo không nói tới: trong số 55,8 tỷ USD thì vay nợ nước ngoài bao nhiêu? Vay trong những năm nào? Vay trong bao lâu? Vay bao nhiêu lần? Năm đầu tiên phải trả nợ? Lãi suất thế nào? Trả cả vốn lẫn lãi là bao nhiêu? Lộ trình trả nợ thế nào? Những điều này hoàn toàn có thể tính toán được dễ dàng, và rất cần thiết để đất nước biết hậu quả mà dự án để lại.

Quốc hội ở đất nước nào có thể bấm nút thông qua khi chưa nắm được những con số đè lên miếng cơm manh áo của các thế hệ sau như vậy?

7)  Các con số đang khiêu vũ?

Thực ra, Báo cáo cũng có đề cập đến số nợ, nhưng đề cập theo kiểu “nghệ thuật múa”, bằng cách chia nhỏ con số để gây ấn tượng về một số nợ nần có thể “chịu đựng”. Báo cáo viết:

“Như vậy, khoản vay giai đoạn đầu khoảng gần 1 tỷ USD/năm, giai đoạn cuối khoảng 1,5 tỷ USD/năm và nhu cầu vốn đầu tư cụ thể cho các giai đoạn sẽ được tính toán chi tiết khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án”

Từ đây chúng ta có tính toán giúp cho Báo cáo một vài con số cần thiết.

Theo Báo cáo, giai đoạn đầu của Dự án là 13 năm (từ 2012 đến 2025), vậy giai đoạn này vay nợ 13 tỷ USD. Giai đoạn cuối của Dự án là 5 năm (từ 2030 đến 2035), vậy giai đoạn này vay nợ 7,5 tỷ USD. Tóm lại, tổng số vay nợ là 20,5 tỷ USD.

Nếu ta cố gắng đi vào chi tiết để xác định chính xác (tương đối) các con số nợ nần thì ta đành bất lực vì ta thấy các con số như đang… khiêu vũ.

Tổng mức đầu tư Dự án theo tính toán sơ bộ là 55,88 tỷ USD, trong đó đầu tư cho kết cấu hạ tầng: 30,889 tỷ USD, đầu tư cho phương tiện: 9,587 tỷ USD, dự phòng: 7,28 tỷ USD. Tổng cộng các con số này là: 47,756 tỷ USD.

Thêm vào đó là các con số được nói trong Báo cáo đầu tư (không lặp lại trong Báo cáo giải trình) là: chi phí tư vấn (3,83 tỷ USD), quản lý (1,05 tỷ USD) và “chi phí khác” (1,415 tỷ USD). Tổng cộng các con số này là: 6,295 tỷ USD.

Tổng cộng của 6,295 tỷ và 47,756 tỷ là 54,051 tỷ USD.

Như vậy, ngay như trong Báo cáo, người ta tính toán “chỉ cần có” 54,051 tỷ USD, nhưng lại xin duyệt tổng dự toán là 55,88 tỷ USD. Con số chênh lệch là: 55,88 – 54,051 = 1,829 tỷ USD. Gần 2 tỷ USD chứ đâu phải chuyện đùa.

Người viết bài này vẫn chưa tìm ra được câu văn nào trong Báo cáo cho biết rõ con số chênh lệch lạ lùng kia sẽ được dùng vào việc gì. Người viết không dám nghĩ những người viết Báo cáo tính toán không thận trọng, vì hầu các con số đều chính xác đến 3 số thập phân (triệu USD).

Mặt khác, nếu tổng chi là 55,8 tỷ USD, trong đó nếu bỏ qua vốn dự phòng (7,28 tỷ USD) và số vay nợ (20,5 tỷ USD), thì Việt Nam tự bỏ ra 55,88 – 7,28 – 20,5 = 28,1 tỷ USD. Số tiền khổng lồ này, theo như Báo cáo, sẽ được “huy động” qua hình thức PPP (Nhà nước và tư nhân cùng làm).

Hãy khoan nghĩ đến chuyện “tư nhân” nào sẽ tham gia dự án này. Nhưng, Nhà nước vẫn sẽ phải gánh thêm bao nhiêu phần trăm của con số 28,1 tỷ USD này, thì Báo cáo không nói tới. Đây không phải là con số quan trọng? Vì ôm món nợ và lãi của 20,5 tỷ USD vay nợ thì cũng là Nhà nước, vậy thì cũng phải biết (ít nhất là trên dự kiến) ngân sách Nhà nước sẽ ôm tiếp bao nhiêu phần trăm của cái PPP kia, thì mới biết (dù chỉ là tương đối) số tỷ USD mà Nhà nước, tức Nhân dân, thực sự gánh trên lưng chứ.

Tại sao không thể cụ thể và nghiêm túc hơn một chút ở những con số không biết nói đùa này?

8)    Lợi thì ngành Đường sắt hưởng, nợ nần thì..?

Đó cũng là một “logic” của Báo cáo. Khi biện minh cho hiệu quả kinh tế của dự án, Báo cáo viết:

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nomura – Nhật Bản (…): Nếu không tính chi phí kết cấu hạ tầng đường sắt cao tốc mà chỉ phân tích hoạt động khai thác vận tải thì dự án đường sắt cao tốc đem lại hiệu quả tài chính cao.

“Không tính đến chi phí kết cấu hạ tầng đường sắt cao tốc” là thế nào? Nghĩa là, không cần bận tâm đến chuyện ai phải trả nợ để có được tuyến đường Shinkansen ấy? Nếu có tàu Shinkansen thì Tổng Công ty Đường sắt sẽ được lợi rõ ràng rồi đấy. Nhưng chả lẽ kể từ khi ký vào tờ giấy vay nợ, toàn thể dân tộc Việt Nam này tồn tại trên đời… chỉ để nai lưng làm việc mà trả nợ cho người Nhật, chỉ để cho Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam kiếm được “hiệu quả tài chính cao”?

Trong kinh tế, ai có thể tưởng tượng đến một thứ “hiệu quả tài chính” bằng cách loại bỏ số tiền đầu tư khổng lồ ban đầu?

9)     “Hiện đại” là cái có thể đi vay?

Báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải bộc lộ một cách nghĩ nguy hiểm về “hiện đại hóa”. Dân tộc Việt Nam sẽ không thể hiện đại hóa được nếu còn những suy nghĩ như vậy.

“Các lợi ích chưa định lượng được bao gồm (…) Dự án được tổ chức thực hiện sẽ góp phần để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Cũng với ý nghĩ như thế về “hiện đại hóa”, Báo cáo viết:

Chính phủ sẽ chỉ đạo Chủ đầu tư nghiên cứu kỹ hơn khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và khả năng chuyển giao công nghệ để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ đường sắt cao tốc.

Những người soạn chính sách nghĩ thế nào là “làm chủ”? Thế nào là “làm chủ từng bước”?

Báo cáo nói trên thể hiện một cách nghĩ rằng công nghệ Shinkansen là lọai công nghệ mà chỉ cần Nhật Bản “chuyển giao” là Việt Nam có thể “từng bước làm chủ”. Nhưng, đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để có thể chỉ cần nhìn rồi bắt chước mà làm được. Phải có một lực lượng kỹ thuật đủ khả năng lĩnh hội, đủ khả năng nghiên cứu để dân tộc có thể thông qua họ mà tự lực tự cường.

Nếu nghĩ một cách đơn giản rằng, chỉ cần có một tiếc tàu Shinkansen là đã trở thành “hiện đại”, thì con đường “Hiện đại hóa” là con đường hết sức đơn giản: chỉ cần đi vay ODA và vỗ béo cho tư bản xây dựng nước ngoài.

Và nếu “hiện đại hóa” là việc đơn giản đến vậy thì thế giới này đã “hiện đại” hết cả rồi, đã “phẳng” từ lâu chứ đâu có “lồi lõm” như bây giờ: kẻ thì cao chót vót, kẻ thì nằm dưới đáy.

10)    Và cuối cùng…

Tổng mức đầu tư: 55,88 tỷ USD, trong đó, vẫn có các khoản chi khác được nêu trong báo cáo đầu tư, không lặp lại ở báo cáo bổ sung, với độ chính xác đến 3 chữ số thập phân (triệu USD) là:

Phía tư vấn, chủ yếu là của Nhật Bản, hưởng trọn 3,83 tỷ USD.

Những người quản lý dự án sẽ chia nhau 1,05 tỷ USD.

Ngay cả cái “chi phí khác” chưa được tính toán mục đích một cách rõ ràng cũng đã lên tới 1,415 tỷ USD.

Tại sao ở một dự án hiệu quả kinh tế – xã hội không rõ ràng, nhưng hậu quả thì rất rõ ràng (khiến các thế hệ sau của đất nước lâm vào siêu nợ nần) mà cả người “quản lý” lẫn người “tư vấn” đều hưởng một số tiền không lồ đến như vậy?

IV.  Hiện đại hóa bằng sức mạnh nào?

1)    Lòng tự trọng

Dân tộc Việt Nam chỉ có thể trở thành một dân tộc hiện đại bằng những con người hiện đại của chính nó, chứ không thể bằng những đồ vật nó có bằng tiền vay của kẻ khác, bằng trí tuệ của kẻ khác.

Đã có vô số nghị quyết Đảng khẳng định “Hiện đại hóa” là hiện đại hóa ở con người.

Không xây dựng sức mạnh cho dân tộc bằng cách xây dựng lực lượng kỹ thuật của riêng mình thì “làm chủ công nghệ” bằng cách nào?

2)    Tư duy chiến lược

Báo cáo nói trên cũng đặt ra vấn đề về năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ hoạch định chính sách của đất nước chúng ta.

Trong lĩnh vực kinh tế, suốt một thời gian dài, chúng ta tư duy bằng những chỉ tiêu, cụ thể hóa chỉ tiêu bằng những nghị quyết, và thực hiện nghị quyết bằng cách phát động những phong trào. Nhật Bản vượt qua hết khó khăn này đến khó khăn khác và thành cường quốc, nhờ cách làm ngược lại: tư duy xuất phát từ những mục tiêu, đi đến mục tiêu bằng tư duy chiến lược, và vận hành chiến lược đó bằng cách cụ thể hóa ở luật pháp.

Phải nhắc lại điều trên, vì dù đã Đổi mới 25 năm, Báo cáo đường sắt cao tốc vẫn chưa dứt khỏi phương thức tư duy cũ và cách vận hành cũ. Suốt mấy chục năm tư duy kinh tế thông qua những chỉ tiêu, dường như đã làm thui chột khả năng tư duy chiến lược của chúng ta.

Tư duy chiến lược không chấp nhận những mối quan hệ nhân quả phi logic, thì theo cách nghĩ của Báo cáo, khi những chiếc tàu Shinkansen chạy trên đường Bắc Nam thì… Tp. Hồ Chí Minh hết kẹt xe.

Tư duy chiến lược không nhìn quan hệ nhân quả là một đường thẳng, thì ở Báo cáo, ta lại thấy kiểu tư duy một chiều mà chính phép biện chứng của triết học Marx đã phê phán là “siêu hình” (cứ hễ có “cao tốc” là thành “hiện đại”).

Tư duy chiến lược không nhìn sự vật trong sự cô lập của nó, thì ở Báo cáo này, “hiệu quả xã hội” (lý do cốt tử để thực hiện dự án), được người ta tư duy như là cái có thể có mà không liên quan gì đến “hiệu quả kinh tế”. Kiểu tư duy này là kiểu tư duy mà những người thầy của chủ nghĩa Cộng sản gọi là tư duy “duy vật máy móc”, kiểu triết học duy vật Hi Lạp… thời cổ đại.

Tư duy chiến lược thúc đẩy sự vận động của sự vật bằng chính cái “thế” của nó. “Thế” là cái bối cảnh (nước đẩy thuyền đi), nhưng “thế” không đơn giản là cái bao quanh mà ẩn ngay trong cấu trúc nội tại của sự vật (“thế như chẻ tre”). Còn ở Báo cáo, bản thân bối cảnh của dự án, bản thân nền giao thông của Việt Nam, và bản thân công trình này, đã bị tư duy cơ giới tách ra thành từng phần rời rạc, hoặc bị khuếch đại, hoặc bị giảm thiểu đến nỗi tư duy lý tính buộc phải băn khoăn về sự thực của nó.

3)    Tái cấu trúc tiến trình ra quyết sách

Người viết bài này tuổi đời còn trẻ, có nghĩ đến những vấn đề vĩ mô của người lớn thì cũng chỉ là nghe lỏm rồi nói leo. Người viết bài này vẫn nhớ cách đây hơn 10 năm, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn khỏe mạnh, trong một lần nói chuyện với sinh viên Tp. Hồ Chí Minh, ông khẳng định: Những cuộc đấu về mặt quân sự đã qua rồi. Chúng ta đã bước vào thời đại mới, thời đại của cuộc đua tranh về mặt trí tuệ giữa các dân tộc. Dù cho bạn học gì đi nữa, hãy luôn nhớ lấy điều này khi học!

Theo Báo cáo nói trên, toàn bộ nền tảng tri thức, bao gồm những đánh giá về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế, về nhu cầu đi lại của hành khách, về năng lực vận tải hiện có và sẽ có, thậm chí kể cả kiểu tính “lợi nhuận” bằng cách… bỏ qua tổng vốn đầu tư khổng lồ ban đầu, hoàn toàn do phía tư vấn Nhật thực hiện và đề xuất.

Như vậy, ở dự án này, khâu đầu tiên của tiến trình ra quyết định – khâu nghiên cứu chiến lược, hay như cách nói của Đại tướng là khâu “trí tuệ” – là các nhóm tư vấn nước ngoài. Và Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam hoàn toàn tin tưởng, không lập một nhóm nghiên cứu chuyên trách nào để phản biện đề xuất của phía Nhật.

Không thể phủ nhận rằng, ODA trong lĩnh vực hạ tầng của Nhật đã giúp cải thiện diện mạo giao thông Việt Nam. Nhưng mặt khác, phải thừa nhận rằng, diện mạo hệ thống giao thông của chúng ta hết sức nham nhở. Nó nham nhở trên thực tế, vì trước tiên, nó đã nham nhở trên tư duy.

Chúng ta không có một think tank nào đảm nhận trách nhiệm hoạch định chiến lược giao thông cho toàn quốc, với tư cách là kiến tạo một hệ thống mạch máu cho cả cơ thể. Hơn 10 năm qua, điều này hoàn toàn do nước ngoài làm thay, mà tiêu biểu là JICA, một mắt xích trong cỗ máy ODA của Nhật.

Người ta tư vấn, là chỉ với mục đích cho vay để giành hợp đồng về cho đất nước họ. Nên thay cho tư duy hệ thống, họ dùng tư duy dự án, làm theo kiểu “gắp từng món trên mâm”.

Ngay trong dự án Shinkansen Bắc Nam này, như bài viết Người Nhật thực sự nghĩ gì về dự án đường sắt cao tốc? đã chỉ ra, họ nghĩ về dự án đơn giản như là một món trên mâm cần gắp ngay, không để Hàn Quốc gắp mất.

Việt Nam không hề thiếu người, chỉ thiếu tính khoa học trong cách tổ chức tiến trình ra quyết định. Vì vậy, xin nhắn lời cuối cùng tới các nhà hoạch định chính sách và các Đại biểu Quốc hội rằng, nếu không xây dựng lại tư duy chiến lược, và không tái cấu trúc tiến trình ra quyết định, thì đất nước mang hình dấu hỏi này sẽ mãi mãi chỉ là một dấu hỏi mà thôi.

Tokyo, 9/6/2010
Nguyễn Lương Hải Khôi

Mạn đàm cùng TS Trần Nhơn

Nguyễn Ngọc – Mạn đàm với Tiến Sĩ Trần Nhơn (phần I)

Nguyễn Ngọc

Thưa ông, sau khi đã đọc xong toàn bộ luận văn của ông qua bốn bài viết với năm phần, tôi mạo muội có đôi lời với ông căn cứ theo khung dàn bài mà ông đưa ra.

Thưa thật với ông, thời tôi nghiên cứu (chắc là sau ông khá xa) cũng là thời mà khoa học kỹ thuật còn rất kém đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam bị cô lập, nghèo khó và cấm vận cách đây hơn 30 năm, nên tôi chỉ xin phép dùng hình thức “mạn đàm” để thưa với ông câu chuyện về Triết học Marx, bởi lẽ không còn tài liệu lưu trữ để xác tín. Hình thức “mạn đàm” chủ yếu bằng trí nhớ và tri thức tích lũy về một vấn đề nào đó và danh dự cá nhân để nói lên quan điểm riêng.

Trước tiên, theo lời dẫn của ông Vũ Duy Phú (biên tập cho luận văn của ông), thì bài luận này đã được gởi cho Ban chấp hành TƯ ĐCSVN vào ngày 22-3-2009 nhân sắp đại hội XI, ba tháng sau, ông lại có “Tâm Ngôn” gửi đảng, có lẽ khoảng tháng 6/2009 ? Nếu điều này là không lầm lẫn thì bài luận của ông đã có phản hồi từ nơi được gởi đi chưa, thưa ông? nếu có thì tôi xin phép được xem để khi phản biện với ông đảm bảo những phân tích, dẫn chứng xác thực hơn. Tuy nhiên, tôi tạm coi bài luận của ông chưa có phản hồi từ phía ban chấp hành TƯĐCSVN cho đến hiện nay (tháng 5/2010 -đã gần một năm).

Thứ hai, tại phần 1.1, ông nói qua khái quát học thuyết Marx có bốn phần chính a,b,c,d là lầm lẫn và cách phân chia của ông không phải là cách mà các sách vở chính thống của Nhà nước Cộng sản giảng dạy. Thưa ông, học thuyết Marx – Lénine có ba bộ phận chính sau đây :

– Triết học gồm: Triết học duy vật biện chứng và Triết học duy vật lịch sử
– Kinh tế – chính trị học gồm : Kinh tế chính trị học phần chủ nghĩa tư bản và Kinh tế chinh trị học phần chủ nghĩa xã hội
– Chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Đó là những giáo trình chính thống của Nhà nước được giảng dạy đại trà, đầy đủ cho tất cả các trường Đại học trên toàn quốc (đặc biệt đối với các trường khối kinh tế, sinh viên thời trước 1990 phải học với thời lượng gấp ba lần so với sinh viên các khối trường khoa học kỹ thuật dù cùng vào một khóa). Vì sao tôi đề cập trước 1990, vì hầu như tất cả các vị trong Bộ Chính Trị hiện nay đều được học về học thuyết Marx theo kiểu cũ trước cả thập niên 90, mà theo tôi biết họ học tập về Marx vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước. Phần cương lĩnh năm 1991 do ông Nguyễn Phú Trọng chủ biên soạn thảo cũng đã nêu rõ cái cách dò dẫm theo Chủ nghĩa Marx. Không riêng ông Trọng, 15 người đang ở trong bộ chính trị hiện nay có đủ thời gian để nghiên cứu sâu sát và thấu hiểu Marx hay chưa cũng là điều cần phải xem lại.

Thưa ông,

Theo ông: “Học thuyết Mác có những bộ phận chính sau đây: a) Triết học, b) Chính trị, kinh tế, xã hội học, c) Giai cấp và giai cấp đấu tranh, d) Chủ nghĩa Mác về đấu tranh giai cấp (Chủ nghĩa Cộng sản) v.v…”

Theo tôi ngay từ đầu ông đã phân chia chưa đúng những gì thuộc học thuyết Marx.

Phần a, ông đã dẫn chưa đủ hai phần triết học của Marx. Đây chính là hai phần cơ bản làm nên học thuyết Marx và cũng là hai phần mâu thuẫn nhau đến độ tôi cho rằng phần duy vật lịch sử đã bị bóp méo và được ấn vào tay Marx, mà không phải do Marx tự viết ra (tôi sẽ phân tích sau về mâu thuẫn giữa hai phần duy vật biện chứng và duy vật lịch sử).

Trong phần duy vật biện chứng, tôi xin điểm qua 3 quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù để tiện dẫn giải và phản biện, phân tích tại sao duy vật lịch sử mâu thuẫn rất nhiều với duy vật biện chứng mà Marx không lẽ có thể tự mình mâu thuẫn với mình như thế:

* Ba quy luật:

– Quy Luật 1: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
– Quy Luật 2: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất (mà người ta hay gọi tắt là quy luật lượng đổi chất đổi)
– Quy luật 3: Quy luật phủ định của phủ định

* Sáu cặp phạm trù:

1- Cái riêng – cái chung – cái đơn nhất.
2- Nguyên nhân – kết quả.
3- Tất nhiên – ngẫu nhiên.
4- Nội dung – hình thức.
5- Bản chất – hiện tượng.
6- Khả năng – hiện thực.

Tôi chỉ xin tóm lại, ba quy luật và sáu cặp phạm trù của Marx đưa ra để nói rằng, theo Marx mọi sự vật hiện tượng luôn :”Vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối”. Các mặt đối lập luôn đấu tranh để thống nhất, thống nhất xong lại đấu tranh để cho ra đời cái hay hơn, tốt hơn theo “vòng xoáy trôn ốc”, cái sau luôn mang một ít dáng dấp cái trước nhưng tiến bộ hơn, văn minh hơn, hợp thời đại hơn từ đó để Marx khẳng định bằng quy luật thứ hai, chất chỉ đổi khi lượng đã đổi đủ, theo đó không bao giờ nên phủ định sạch trơn bất cứ sự vật hiện tượng nào thông qua quy luật thứ ba. Đó cũng là cách sắp xếp theo thứ tự quan trọng và biện chứng giữa 3 quy luật này. Tất nhiên, quy luật quan trọng nhất là quy luật 1. Không có nó thì không có quy luật hai và ba. Quy luật hai và ba tác động trở lại quy luật một và hai quy luật này tác động lẫn nhau để bảo đảm đó là một quá trình vận động liên tục không ngừng. Điều này cũng phù hợp và nhất quán với bài học nhập môn đầu tiên “Vật chất và ý thức”, theo Marx vật chất quyết định ý thức và ý thức có tác động trở lại đối với vật chất – Marx cho đó là mối quan hệ hữu cơ.

Phần b, Marx chỉ có bộ “Tư bản luận”, còn cái gọi là “Kinh tế – chính trị học” như tôi trình bày là tài liệu của các “nhà kinh tế -chính trị học” thời sau Marx viết ra căn cứ vào bộ “Tư bản luận của Marx”, Marx không hề viết bất cứ học thuyết “Kinh tế – chính trị học”, cũng không có cái “Chính trị, kinh tế, xã hội học” như ông trình bày. Tại đây tôi xin nhấn mạnh, cái dấu gạch ngang giữa kinh tế và chính trị để các nhà “kinh tế – chính trị học” nhấn mạnh vai trò không thể tách rời giữa kinh tế (Vật chất) và chính trị (ý thức) nhằm phản ánh đúng tinh thần của Triết học Marx (phần duy vật biện chứng).

Phần c và phần d như ông trình bày, thật ra nó nằm trong “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” cũng do thời sau Marx viết.

Tóm lại, cách phân chia của ông cho thấy ông chưa nắm rõ về học thuyết Marx.

Tôi nhớ, cách đây hơn 30 năm, khi lần đầu tiên tôi thi vấn đáp môn Triết học Marx, đó là những kỷ niệm, suốt đời tôi không bao giờ quên, đó cũng là lý do tại sao gần 30 năm qua tôi vẫn nhớ như in để có cuộc mạn đàm với ông hôm nay. Tôi xin phép kể lại câu chuyện.

Chúng tôi, những tân sinh viên lần đầu thi một môn học mà đứa nào cũng thấy khó hiểu nên chuẩn bị khá kỹ bằng cách cố gắng… học thuộc lòng (!)học mà không hiểu thì học thuộc lòng càng khó. Thôi thì cố vậy chẳng có cách nào hơn.

Ngay buổi thi đầu tiên. Đứa bạn thứ nhất bước ra khỏi phòng, đám bạn xúm lại hỏi:

Câu chuyện thứ nhất:

– Sao, mày bốc câu gì? thầy hỏi sao?
– Câu “vật chất và ý thức”.
– Vậy ngon rồi. Sao tiu nghỉu vậy.
– Tao cũng thấy ngon. Trả lời ro ro như trong sách.
– Rồi sao?
– Thì ông thầy nghe chăm chú. Xong ổng vừa cười vừa móc túi lấy ra tờ giấy bạc và hỏi :”Theo em, tờ giấy bạc này có phải là vật chất không?”
– Tao trả lời: “Dạ phải.
– Rồi sao?
– Ông cho tao 4 điểm và bảo về học lại.
– Rồi mày có hỏi sao không?
– Có. Ổng nói :”Em nói vậy, hóa ra tiền quyết định ý thức sao?” Vậy thì người ta nói tiền quyết định ý thức cho rồi chứ cần gì nói vật chất quyết định ý thức!!!
– Rồi sao nữa?
– Lẽ ra mình phải nói tiền là một dạng của vật chất thì mới đúng.

Câu chuyện thứ hai:

Một đứa bạn khác lại bước ra

– Sao rồi mậy?
– Tao bốc trúng câu “quy luật phủ định của phủ định”
– Rồi trả lời sao?
– Thì cũng ro ro như trong sách vở.
– Rồi ông thầy hỏi sao?
– Ông cũng nghe tao trình bày một cách chăm chú và hỏi rằng:”Vậy tôi hỏi em, cái quần ống túm có phủ định cái quần ống loe không?”
– Rồi mày trả lời sao?
– Tao ngần ngừ rồi nói”Em nghĩ không phải”
– Ông thầy nói “Vậy em giải thích xem tại sao không phải?”
– Tao không giải thích được nhưng vẫn giữ ý kiến.
– Rồi sao?
– Ổng cho 6 điểm và giải thích. Vì cái quần ống túm hay ống loe cũng đều là cái quần, dùng để che thân, nó không hề thay đổi bản chất nên không thể là “quy luật phủ định của phủ định” được.

Câu chuyện thứ ba:

Đứa bạn thứ ba bước ra.

– Tao bốc câu “lượng đổi chất đổi”, cũng trả lời ro ro
– Biết rồi, nhưng ông thầy hỏi sao?
– Ổng hỏi:”Giả dụ bây giờ cái đuôi ngựa, em nhổ vài sợi lông đuôi của nó thì đó có phải là quy luật lượng đổi chất đổi không?
– Tao trả lời: không. Ổng biểu giải thích
– Tao nói: Thưa thầy, nhổ vài sợi lông đuôi thì nó vẫn là cái đuôi ngựa, khi nào nhổ hết gần 2/3 hay cắt trụi lúc đó lượng đổi (số sợi lông đuôi) thì chất mới đổi (cái đuôi ngựa không còn là cái đuôi ngựa nữa, đuôi ngựa không còn giữ đúng bản chất là đuôi ngựa). Chín điểm.

Đó là những câu chuyện triết học ứng dụng kể cho vui , chứ tôi nghĩ ông chắc còn rành hơn tôi, mục đích tôi kể cho một ít độc giả Dân Luận để chia sẻ một việc nhỏ: Triết học không khô khan, khó hiểu nếu giảng viên biết giúp sinh viên nhận ra từ những việc đơn giản, gần gũi trong cuộc sống rồi hãy nói đến những cái cao siêu hơn, lúc đó triết học sẽ rất thú vị. Tôi chỉ tiếc là đa số giảng viên dạy triết không tìm những ví dụ, câu hỏi đời thường, gần gũi cuộc sống như giảng viên ngày xưa của tôi, do đó làm cho sinh viên chán học Triết vì thấy khô khan, khó hiểu và vô vị chẳng có ý nghĩa gì trong cuộc sống. Điều quan trọng là giảng viên phải làm cho sinh viên nhận ra triết học luôn ở quanh ta, từ những cái nhỏ nhặt nhất mà ta thấy hứng thú với môn học này thì ta sẽ đào sâu nâng cao tri thức về môn học bổ ích này cho tầm cao hơn đó là triết học ứng dụng trong chính trị, trong tự nhiên, trong quan hệ xã hội, trong y học (chữa bệnh bằng tâm lý) và còn nhiều ngành học khác rất cần đến triết học nói chung và triết học Marx nói riêng (theo thiển ý của tôi, tôi chỉ chấp nhận phần duy vật biện chứng là khoa học, còn duy vật lịch sử hoàn toàn bóp méo, không phải của Marx).

Hẹn ông kỳ sau sẽ mạn đàm tiếp.

——————–

Tiếp tục cuộc mạn đàm với Tiến sĩ Trần Nhơn, tôi xin đi vào phần mà ông đã viết:

Chỉ riêng có bộ phận thứ tư, phần d) nói trên: Chủ nghĩa Mác, Chủ nghĩa Cộng sản, là có vấn đề phải xem xét, phân biệt cho kỹ từng phân kỳ (sự tiến hoá) của nó. Sau đây tôi chỉ tập trung nói về phần thứ 4, phần d) những tư duy, chủ trương, đường lối cách mạng vô sản của Mác, vì nội dung này đã gây ra tranh luận, mâu thuẫn rất nhiều trên thế giới

Theo phần mạn đàm trước mà tôi đã viết, thưa Tiến sĩ Trần Nhơn, tôi cho rằng đánh giá Marx, không thể dựa vào “bộ phận thứ tư, phần d)” như ông nói được, bởi lẽ cốt lõi học thuyết Marx chính là Triết học duy vật biện chứng, đó là cái gốc của vấn đề để tôi phân tích, phần d như ông nói chỉ là phần khai triển các ý tưởng trong học thuyết của Marx, mà những người kế tục Marx viết ra, nó nằm trong phần ba “Chủ nghĩa cộng sản khoa học” – vốn không phải Marx viết.

Duy vật lịch sử như chúng ta đều biết, cốt lõi nêu lên các hình thái kinh tế – xã hội qua các thời kỳ tiến hóa của xã hội loài người gồm: chế độ Cộng sản nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản, chế độ cộng sản mà những người kế tục đã viết ra để khẳng định 3 quy luật cùng 6 cặp phạm trù của Marx là đúng. Tuy nhiên toát lên mọi bài học từng phần, từng chương, những người viết ra duy vật lịch sử đã tưởng đúng khi vận dụng học thuyết Marx để kết luận xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng theo hình trôn ốc đi từ hình thái thấp nhất là CS nguyên thủy đến CS hiện đại- cái mà người ta mong muốn và vẽ lên viễn cảnh tốt đẹp nhưng chưa bao giờ có trong thực tế, đó chỉ là “bức tranh siêu thực” mà những người này mong muốn vào lúc bấy giờ. Điều quan trọng ở đây, khi Marx đưa học thuyết của mình ra và viết lên bộ “Tư bản luận” là Marx xuất phát từ thực tế những gì con người đã và đang trải qua cho đến lúc Marx được sinh ra, lớn lên, Marx đã nghiên cứu chỉ đến thời điểm của Marx sống, thế thôi. Nếu chúng ta có thời gian xem lại duy vật biện chứng và tư bản luận, chúng ta sẽ công tâm nhận thấy Marx chưa bao giờ nói về cái gọi là “Chủ nghĩa cộng sản, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

Marx đã tự đưa ra duy vật biện chứng với cái nhìn mọi sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động thì Marx không thể nói rằng “Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa tốt đẹp nhất của xã hội loài người”, bởi lẽ nếu đó là sự thật thì Marx đã phủ định sạch trơn cái của Marx khi chính Marx tuyên bố vận động và cuối cùng lại sản sinh ra cái xã hội “tốt đẹp nhất đồng nghĩa xã hội đã đứng yên”(!) Đây là điều mà theo thiển ý của tôi nó trở nên quá vô lý, nó hầu như đánh đổ toàn bộ tất cả những gì Marx suy nghĩ và viết ra 3 quy luật cùng 6 cặp phạm trù.

Marx vạch ra những cái lạc hậu của CNTB thời đó, Marx tìm ra công thức C+V+m. Tuy nhiên, khi chúng ta đặt Marx vào thời điểm cách đây trên 150 năm thì rõ ràng Marx cũng có cái đúng của ông ấy. Với những gì xấu xa nhất của thời tư bản còn quá sơ khai, còn cướp bóc sức lao động và buôn bán con người như nô lệ thì quả nhiên những gì Marx nghĩ và viết có những cái đúng của nó. Tư bản được tích lũy vào thời điểm đó phần từ cướp bóc tài nguyên thiên nhiên bằng súng đạn, quyền lực trong tay kẻ thống trị và khai thác sức lao động của nô lệ và người công nhân vô sản có vẻ là phần nhiều hơn so với sự tích lũy tư bản từ chất xám, từ công nghệ hiện đại. Vậy thì lúc đó Marx nói về “m” là khá đúng, tuy nhiên ông ấy có sai vì ông ấy cho rằng “m” lẽ ra phải thuộc về người bị trị hoàn toàn mà không thấy vẫn phải có một phần những kẻ thống trị trong đó. Lẽ ra Marx nên nói: “m” là của cả hai trong đó , do khoa học kỹ thuật còn lạc hậu nên hầu như giá trị làm ra cho xã hội phần lớn từ cơ bắp và trí não của người lao động, tuy nhiên khi ta nói: ” khoa học kỹ thuật lạc hậu” có nghĩa ta đang so sánh thời Marx với sau này và hiện nay. Vào ngay lúc Max thì rõ ràng giá trị thặng dư do tiến bộ khoa học kỹ thuật và những chất xám của các lãnh vực khác mang lại cho nô lệ và người nông dân, công nhân chưa chiếm số nhiều khi mà những buổi hòa nhạc, những vở kịch, những tác phẩm văn học, những bữa sinh nhật vui nhộn, những công trình kiến trúc nguy nga, những chiếc xe tứ mã kiêu sa v.v… hầu như chỉ dành riêng cho giai cấp thống trị thì rõ ràng Marx nhìn thấy các thành phần khác trong xã hội luôn phải phục vụ cho tầng lớp thống trị những cái xa hoa nhất là điều ta có thể hiểu và cảm thông với Marx.

Khi ta phê phán Marx hay bất cứ ai khác thì ta nên đặt nhân vật đó vào trong thời kỳ họ đang sống và đang quan sát, chiêm nghiệm những gì thực tế đang diễn ra quanh họ thi sẽ khách quan hơn. Thử hỏi nếu Marx sống lại, chắc ông hẳn ngạc nhiên lắm khi bây giờ trẻ con ngày nay có thể bắn nhau đùng đùng trên playstation, thanh niên có thể lướt web nhoay nhoáy, tin tặc có thể tả xung hữu đột khắp nơi trên toàn cầu v.v… và còn biết bao nhiêu thứ mới lạ đối với Marx. Ông ấy không có lỗi khi đưa ra học thuyết của mình, thậm chí ông ấy có cái đúng khi tìm ra C+V+m vào thời điểm đó và chỉ vào thời điểm đó mà thôi.

Có lẽ, chúng ta cần lấy một thực tế điển hình nào đó tại Việt Nam để chứng minh Triết học duy vật lịch sử đã mâu thuẫn gần như hoàn toàn với Triết học duy vật biện chứng nhằm rộng đường dư luận.

Dẫn chứng mà tôi cho rằng sống động nhất của xã hội Việt Nam chính cái gọi là “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển Chủ nghĩa tư bản”, nó hoàn toàn sai lầm mà ai cũng biết ít nhiều, tuy nhiên tôi xin phép được phân giải dưới góc nhìn của Duy vật biện chứng.

Thật vậy, cứ tạm chấp nhận nhau tiền đề “Chủ nghĩa xã hội là sự tiến hóa của xã hội loài người bằng hình thái xã hội tốt đẹp hơn nhiều so với Chủ nghĩa tư bản”. Như vậy, theo quy luật 1, có lẽ ông sẽ đồng ý với tôi, “sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập” đã diễn ra và tiếp theo đó, quy luật 2 và quy luật 3 phải nảy sinh. Đúng vậy, quy luật 2 và 3 bắt buộc phải nảy sinh để hoàn toàn đúng theo bộ ba không tách rời của học thuyết Marx và chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau cũng như tác động trở lại quy luật 1 một cách khách quan. Quy luật 2 là quy luật nói về sự vật, hiện tượng cần có lượng đổi đủ thì chất mới đổi, chúng ta thử lấy mốc vào ngày 30/4/1975 để mạn đàm cùng nhau (vì lẽ cái mốc này còn khá mới mẻ để mọi người cùng tham gia suy nghĩ và tranh luận).

Theo quy luật 2 như đã nói, chúng ta thử ngẫm những lượng nào cần tích lũy và tích lũy đủ chưa để đảm bảo quy luật 2 hoạt động? Tại đây, tôi muốn dẫn giải rõ hơn: (LƯỢNG)- Tư liệu sản xuất, quan hệ sản xuất của miền Bắc (ngay thời điểm sau 1975) và của cả miền Nam (ngay thời điểm sau 1975), đã đảm bảo cho (CHẤT) “tiến thẳng lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN”? Chắc chắn là không. Không bởi lẽ, nền kinh tế miền Bắc lúc bấy giờ là nền kinh tế thời chiến, sản xuất, phân phối, lưu thông không hề theo quy luật thị trường (vì đâu có kinh tế thị trường), đó là điểu dễ hiểu, chủ yếu miền Bắc duy trì xã hội bằng sản xuất tự cấp tự túc và nhận viện trợ, tất nhiên đó không hề là nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, ở miền Nam, mặc dù chưa phải hòan toàn là một nước phát triển như phương Tây, nhưng nó đã hình thành hẳn hòi một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa của nó.

Rõ ràng LƯỢNG ở đây còn quá thiếu thốn làm sao CHẤT đổi được (cũng như cái đuôi ngựa). Ngay sau 1975, nếu người ta tỉnh táo và có đủ hiểu biết thì lẽ ra điều nên làm là TĂNG LƯỢNG ở miền Bắc sao cho ĐỦ (cứ tạm giả sử kìm hãm miền Nam vào thời điểm đó cứ y như thế, không để phát triển thêm mà chỉ duy trì ổn định thôi – đây là phân tích khoa học, các độc giả nhé, hãy bình tĩnh) như LƯỢNG của miền Nam vào thời điểm đó (cứ tạm chấp nhận LƯỢNG ở miền Nam là đủ), sau đó sẽ cùng miền Nam nắm tay đi tiếp…

Tuy nhiên, ngay tại đây sẽ phát sinh ngay lập tức câu hỏi : “Đi đâu?”. Vâng đúng vậy, không thể đi ngay lên CNXH mà không thể không qua CNTB. Tại sao? Đó cũng là vấn đề lượng và chất. Thật đơn giản.

Giả sử, nếu tình hình diễn ra theo kịch bản tôi vừa nói, sau 10 năm miền Bắc đuổi kịp miền Nam về lượng và trong trường hợp tuyệt vời nhất, cả hai miền cùng đã có sự tương đồng về lượng thì cái LƯỢNG này đã đảm bảo đủ cho việc tiến lên CNXH (CHẤT) ngay chưa? Chưa, chắc chắn là chưa. Vì sao? Vì, LƯỢNG cần tích lũy là bao nhiêu để đảm bảo cho cái CHẤT (XHCN) nảy sinh? Đến giờ này chưa hề có một ai có thể LƯỢNG HÓA vấn đề này để đảm bảo những tiêu chuẩn nào cho việc đi lên CNXH, mà bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.

Tôi nghe nói các quốc gia như Đan Mạch, Na Uy hình như đang có hình thái mà có thể gọi là CNXH, không biết có đúng không, có lẽ những người đang sinh sống tại các quốc gia này có thể cho ý kiến thì xác thực hơn.

Như vậy, cái sai lầm nhất là người ta đã không hề hiểu đủ về quy luật 2, người ta đã bỏ qua một cách thiếu tri thức về lượng và chất ở đây để áp đặt một suy nghĩ cực đoan và viễn vông: ta cứ tiến thẳng lên CNXH mà không cần bọn tư bản xấu xa, chỉ biết bóc lột và bóc lột. Sai lầm này đã dẫn đến quy luật 3 hoạt động méo mó là điều dễ hiểu, nó dẫn đến phủ định sạch sẽ tất cả những thành quả mà chế độ Tư bản đạt được (sau khi Marx chết cả gần trăm năm). Những người mang danh trung thành với Marx đã không ghi nhận sự vận động và tiến bộ không ngừng của CNTB. Họ – những người mang danh trung thành với Marx đã phản bội Marx từ một tư duy nhỏ mà vô cùng quan trọng – tư duy vận động là tuyệt đối. Trong mắt họ, CNTB là thế và mãi là thế. Họ buộc người dân Việt Nam phải thấy một sự thật phi lý : xã hội Tư bản đang đứng yên như hồi nào giờ nó đứng yên. Nó chẳng mảy may di chuyển, vận động gì cả. Rõ ràng họ muốn người dân nhìn thấy chế độ Tư bản đứng yên ở góc độ xấu xa và điều này được gọi tên là “duy ý chí”.

Trong một cách nhìn song song của tư duy “đứng yên, vận động”, người ta cũng không chịu nhìn thấy môt điều cũng đơn giản không kém, muốn phủ định (cái mà ta ghét cay ghét đắng nó) thì điều kiện cần và đủ là gì? không ai chịu suy xét cả, song song đó, giả sử nếu đã có điều kiện cần và đủ thì phủ định cái gì? cũng chẳng ai chịu suy xét cả, thế là kết quả “phủ định sạch trơn” miền Nam là nguyên nhân của cái không có học hoặc học không đầy đủ và không nắm chắc. Việc miền Nam đi thụt lùi theo miền Bắc là điều quá hiển nhiên theo nguyên lý: SAI (nền kinh tế miền Bắc và miền Nam không tương thích) + SAI (không hiểu duy vật biện chứng của Marx) = ĐÚNG (tụt hậu). Miền Nam thụt lùi thì hậu quả cả nước thụt lùi là quãng thời gian 35 năm qua, ai cũng thấy rõ.

Nói hình tượng một chút như thế này, em tôi đang chạy trước tôi 1km, tôi – với sức già lẽ ra bảo nó, mày chạy chậm chậm lại chút, cho anh theo kịp, nhưng tôi đã bực bội vì sức trẻ, vì kỹ thuật chạy của nó nên tôi dùng “quyền huynh thế phụ” buộc nó chạy thụt lùi, giá như tôi vì tương lai con nó và con tôi chí ít tôi chỉ cần ép nó mày đứng yên đấy khi nào tao tới rồi tao và mày cùng chạy thì Việt Nam đã đỡ hơn khá nhiều trong 35 năm qua, đằng này tôi buộc nó chạy thụt lùi mà mặt thì cứ hướng về đằng trước, nó không vấp té gãy giò, gãy cẳng, nó không hận tôi thì mới lạ (!). Điều này cũng có thể dùng 6 cặp phạm trù để lý giải được.

Để mang tính thời sự và dễ tranh luận nhau hơn về học thuyết của Marx, tôi xin lấy ngay vụ án “lật đổ chính quyền nhân dân” (để cho gọn từ đây xin phép gọi tắ là vụ án) mà Nhà nước vừa xử vào ngày 11/5/2010.

Quy luật 1 đã nảy sinh (sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập), vì sao nảy sinh thì đã có nhiều bài phân tích, tôi xin phép không phân tích nữa mà đi vào quy luật 2 và 3.

Vụ án được đưa ra, được điều tra, khởi tố v.v… xuất phát từ các hành vi của Thức, Định, Long, Trung mang tội danh “lật đổ”. Các hành vi của các anh ấy chính là LƯỢNG (hội họp bàn bạc, viết tân hiến pháp, đi nước ngoài tập huấn v.v… – theo cáo trạng), dưới góc nhìn của các anh ấy có vẻ như LƯỢNG đang dần dần tích lũy nhiều lên và các anh ấy đang hướng đến CHẤT (kết quả đòi hỏi đa đảng thành công), nhưng rất tiếc lượng của các anh ấy chưa đủ, vì ngay từ đầu các anh ấy đã không tiên lượng tất cả những lượng nào cần phải có, theo thiển ý của tôi, ngoài những lượng các anh ấy tạo ra còn những lượng khác ví như: lực lượng quần chúng đủ lớn, sự ủng hộ của các nhân vật thế lực ngay trong ĐCSVN, sự ủng hộ của thế giới, vị thế Đảng dân chủ đã có đủ thực lực chưa v.v…, còn khá nhiều vấn đề để chúng ta rút ra sự thất bại từ các anh ấy. Nhưng dưới góc nhìn của nhà nước thì lại khác, LƯỢNG ĐỦ RỒI (hành vi các anh ấy, các chứng cớ, các tài liệu v.v…) nên CHẤT phải đổi (bắt giam và truy tố). Nếu nhà nước không làm chất đổi theo cái cách họ nhìn thấy là đã đủ lượng thì họ sợ một ngày nào đó, lượng của các anh ấy đủ thì chí nguy! Đó là sự thật hiển nhiên.

Như vậy sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất còn tùy thuộc một phần sự nhìn nhận chủ quan và theo từng góc độ của sự vật hiện tượng, ở đây sự việc của vụ án dưới góc nhìn của nhà nước khác, dưới góc nhìn của Thức, Định, Long, Trung khác, dưới góc nhìn của người dân khác và kể cả dưới góc nhìn của cá nhân , tổ chức nước ngoài v.v… Từ đây, quy luật 3 được nhà nước sử dụng sai lầm một lần nữa, phủ định sách trơn tất cả những gì các anh ấy làm, chính lẽ đó mà các tổ chức, cá nhân tên tuổi, một bộ phận nhân dân VN trong và ngoài nước lên án những vi phạm thô bạo về các cam kết quốc tế về những mặt nhân quyền, tự do ngôn luận, biểu tình, lập hội v.v… Quả đúng vậy, nhà nước này đang dùng quy luật 3 rất méo mó để hành xử với xã hội. Chúng ta ngẫm xem, tất cả họ đều phủ định sạch trơn hết từ việc nhỏ đến việc lớn ví dụ : việc mời Thiền sư Nhất Hạnh tới Đại sứ quán VN tai Pháp để thanh minh về vụ Bát Nhã, lá thư gởi ông Joseph Cao, xử những người dân yêu nước v.v… cho đến những chính sách kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế v.v… nhà nước vẫn một tư duy phủ định sạch trơn, họ chỉ làm theo những gì họ nghĩ ra được và họ cho là đúng. Một tư duy phản bội lại Marx mà có lẽ họ cũng chẳng hề hay biết, vì Marx đã trở thành cái gì quá xa và chỉ còn là cái bình phong hoặc cái phao cho họ bám vào trong cơn hụt hơi giữa biển cả tri thức và sự tiến bộ mênh mông của loài người.

Các phân tích nói trên để xác nhận Marx luôn nhìn sự vật và hiện tượng VẬN ĐỘNG, đó chính là điều quan trọng nhất khi nghiên cứu về Marx.

Để kết thúc cuộc mạn đàm ở đây, tôi xin kể hầu quý vị câu chuyện vui nữa. (cũng về triết học)

Năm thứ hai đại học, khi thi về Kinh tế – chính trị học, tôi bắt được câu (không nhớ chính xác câu hởi)so sánh kinh tế TBCN và XHCN để nói lên tính ưu việt của chế độ XHCN. Sau khi trả lời theo sách vở, tôi đã “ngây ngô” hỏi thêm giảng viên:

– Thưa cô, em học kinh tế – chính trị và trước đó là Triết học, sao thấy nó kỳ kỳ sao đó cô!

– Sao lại kỳ, kỳ thế nào, em nói tôi nghe thử?

– Theo Marx, mọi sự vật và hiện tượng luôn vận động, sự đứng yên chỉ là tương đối, ngay cả khi ta chết, xác ta cũng đang vận động (phân hủy) phải không cô?

– Đúng rồi. Mọi sự vật hiện tượng, không có gì là không vận động.

– Vậy sao em học lại thấy viết xã hội của Chủ nghĩa cộng sản là xã hội tốt đẹp nhất mà loài người tìm ra. Vậy không lẽ, khi đạt được tới đó là hết, xã hội không còn tiến hóa sao cô? điều đó đi ngược lại với quan điểm của Marx.

– ….

Sau đó, tôi “được” điểm bốn cho môn này và tôi phải thi lại lần hai mới đạt để lên khóa. Tôi buồn vì điểm bốn thì ít mà buồn vì giảng viên né tránh khoa học thì nhiều. Có lẽ đó là một trong những kỷ niệm đáng nhớ của tôi thời sinh viên.

Hẹn cuộc mạn đàm kế tiếp.

Nguyễn Ngọc.